Lưu trữ của chuyên mục 'Chính trị - xã hội'

11
Tháng 5
09

Lương tâm ở đâu?

Năm con học lớp 3, cô giáo kể cho cả lớp nghe một câu chuyện về cậu bé tên là Bin. Cậu bé mồ côi bố từ nhỏ, sống cùng mẹ trong một ngôi nhà lụp xụp. Một lần, mẹ cậu bị bệnh nặng.

Để có tiền mua thuốc cho mẹ, cậu bé đã ăn cắp của một người bạn thân 10 đồng xu. Vụ việc không được phát giác nhưng mỗi lần nhìn thấy bạn, Bin lại thấy xẩu hổ và áy náy.

Cô giáo bảo với cả lớp rằng: Bin đang bị lương tâm dày vò.

Lương tâm là gì? Nó nằm ở đâu trong cơ thể con người? Con đem băn khoăn đó về nhà và sà vào bếp hỏi mẹ. Mẹ kéo con lại gần vuốt mái tóc mềm mại của con bảo:

- Lương tâm không nằm cố định một chỗ, con gái ạ!

Câu trả lời khó hiểu đó vẫn cứ đeo bám lấy con. Cho đến một ngày, khi con cùng mẹ đi chơi công viên, con đang mê mải nhìn những quả bóng bay đủ màu sắc thì mẹ gọi con. Con đưa mắt nhìn theo tay mẹ chỉ và thấy một bạn nhỏ như con đang đỡ một em bé bị ngã đứng lên rồi còn cho em bé quả bóng đang cầm trong tay mình. Mẹ bảo:

- Lương tâm lúc này đang nằm trên đôi tay của bạn nhỏ ấy đấy con ạ!

Lần khác, hai mẹ con đi dạo, con nhìn thấy một người đàn ông mặt đỏ gay giơ chân đá mạnh vào một cún con đang chơi gần đó. Đau quá, cún con nằm vật ra đất còn người đàn ông cứ thế bước đi. Mẹ chạy đến đỡ cún con lên xoa lên lưng nó. Còn con nhìn theo người đàn ông kia đầy tức giận. Đợi cún con hết đau, mẹ thả nó xuống đất. Cún con vẫy đuôi chạy đi. Mẹ nắm tay con:

- Lương tâm lúc này nằm ở đôi chân của người đàn ông cục cằn ấy con ạ!

Hồi còn học lớp 8, trong giờ thể dục, có một bạn đang chạy thì bị ngất xỉu phải đưa lên phòng y tế. Nhìn thấy cô y tá cắm kim tiêm vào bắp tay bạn, nhỏ Hoa trào nước mắt rồi quay mặt đi khóc thút thít. Về nhà, con kể cho mẹ nghe. Mẹ nhìn con trìu mến: Lúc ấy lương tâm của bạn nằm ở đôi mắt và tiếng khóc.

Một buổi sáng chủ nhật, ngồi buồn con chợt nghĩ ra trò nhắn tin để trêu nhỏ bạn: Tớ ngồi học trên lầu, bố mẹ tớ không biết nên đã khoá cửa ngoài mất rồi. Tớ phải ra ngoài bây giờ. Cậu đến “cứu” tớ nhé!

Nhỏ bạn con tưởng thật vội vã đạp xe đến nhưng khi thấy con xuất hiện trước cổng, ôm bụng cười ngặt nghẽo thì nhỏ bạn con tức tưởi:

- Cậu độc ác vừa thôi.

Và con đã nhìn thấy cánh tay nhỏ bị xây xát. Hỏi ra mới biết vì vội đến cứu con mà nhỏ bị người ta tông xe ngã xuống đường. Cũng may, nhỏ chỉ bị thương nhẹ. Nhỏ đã nhận lời xin lỗi của con nhưng suốt mấy ngày đó, mỗi lần nghĩ đến con lại thấy day dứt trong lòng.

Bài học làm người đầu tiên mẹ dạy giản dị là thế nhưng bây giờ con mới hiểu.

Lương tâm nằm ngay trong mỗi ý nghĩ, hành động…của mỗi người mẹ nhỉ? Nó giúp cho mỗi người chúng ta sống tốt hơn trong cuộc đời phải không mẹ?

Bùi Thu Hoàn/Mực tím

20
Tháng 4
09

Thư gởi họa sĩ Trịnh Cung

Thư gởi họa sĩ Trịnh Cung

Nguyễn Đắc Xuân

ngày 18 tháng 4, 2009

Thà có kẻ thù đầy mưu trí, ít nguy bằng bạn quí ngu si” (Rien n’est si dangereux qu’ un ignorant ami; Mieux voudrait un sage ennemi.) (La Fontaine). Muốn khỏe cho tuổi già, tôi cũng có thể nhắm mắt “thôi kệ” anh. Nhưng dù sao, tôi không thể xóa hết những kỷ niệm quen nhau đúng nửa thế kỷ với anh, không thể xóa hết những hình ảnh mới rợi ở Hoa Kỳ hồi mùa hè năm 2007 với anh. Tôi không thể “một lần đạp c., một lần chặt chân”, tôi muốn được rửa chân. Nhưng nói chuyện phải trái với một người “lấy sự cao ngạo làm đạo đức” như anh đã nhiều lần vỗ ngực xưng tụng, thì quá khó! Năm mươi năm cầm bút, tôi đã bao lần bút chiến với ta, với địch, nhưng chưa bao giờ tôi thấy khó khăn như phải tranh luận với anh hôm nay. Khó không phải vì trí thức của anh, khó không phải vì sợ các thế lực nào đó đứng sau lưng anh mà khó vì anh đã từng là bạn tôi, khó vì phải vạch áo của bạn bè cho người xem lưng. Ôi !“Hỡi Thượng-Đế! Hãy canh giữ giùm con những người bạn thân thiết, còn kẻ thù con đảm đương được” (Mon Dieu! gardez-moi de mes amis! Quand à mes ennemis, je m’en charge!) (Voltaire).

Về chuyện lừa người nổi tiếng vào chuyện tuyên truyền chính trị rẻ tiền

Huế, một ngày chớm hè 2009

Anh Trịnh Cung

Những tuần cuối tháng 3-2009 vừa rồi, tôi không được khỏe, nhưng vẫn phải vào TP HCM để tiếp báo chí, các Đài Truyền hình nói rõ chuyện tôi tìm được Trường ca Tiếng hát dã tràng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (NS TCS) như thế nào để giúp ca sĩ Ánh Tuyết ATB nhân ngày giỗ lần thứ tám của nhạc sĩ dàn dựng trường ca nầy vào tối ngày 1-4-2009 tại Nhà hát Hòa Bình vừa qua.

Không ngờ trong thời gian đó thì anh – họa sĩ Trịnh Cung – người mệnh danh là bạn thân thiết với Trịnh Công Sơn lại bừng bừng khí thế chuẩn bị món quà cúng giỗ lần thứ tám cho bạn mình bằng bài viêt “Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị“. Món quà cúng giỗ của anh dành cho NS TCS làm cho người gần kẻ xa phải trào nước mắt. Họ khóc vì tức giận anh, khóc vì thương NS TCS không may có một người bạn như anh và đồng thời cũng có người khóc vì cám ơn sự dũng cảm của anh đã “hạ” được thần tượng Trịnh Công Sơn trong lòng họ.

Báo Thanh Niên (ngày 4 và 5-4-09), hàng chục trang Web trong và ngoài nước nóng lên với hàng mấy trăm ý kiến phản biện món quà ngày giỗ NS TCS của anh. Thiển nghĩ như thế đã đủ và chỉ còn chờ sự tiếp thu của anh nữa mà thôi. Nhưng không ngờ nhiều độc giả trong và ngoài nước, trong đó có cả các con của tôi mà anh đã gặp, gởi e-mail, gọi điện thoại, gặp trực tiếp, đại ý bảo tôi: NĐX là bạn của NS TCS, bạn của họa sĩ Trịnh Cung, bạn của hầu hết những tên tuổi được nêu trong bài viết của Trịnh Cung, những quan hệ, những hoạt động của họ ít nhiều có liên quan đến NĐX, nếu NĐX không lên tiếng có nghĩa NĐX đồng lõa, hoặc có nghĩa những gì Trịnh Cung viết đều đúng cả.

Anh Trịnh Cung,

Ta quen nhau đến nay vừa tròn nửa thế kỷ (1959-2009). Lúc ấy anh mới ở làng Chụt, P. Vĩnh Nguyên, Nha Trang ra học Mỹ Thuật, còn mang tên Nguyễn Văn Liễu, làm thơ với bút danh Thương Nguyệt. Trong anh em có Cao Hoàng Nhân, Chiêm Đàm, Thanh Nhung, Ái Phượng Liên… Cuộc sống rất nghèo, nhưng lúc đó chúng ta rất quý nhau. Về sau, tôi vào Đại học Sư phạm, anh ra trường Mỹ Thuật và rời Huế nên thỉnh thoảng mới gặp nhau. Trong các bài viết của tôi về thơ Huế, tôi luôn nhắc đến giai đoạn chúng ta làm thơ cùng Cao Hoàng Nhân.

Sau 1975, thỉnh thoảng tôi gặp lại anh, có lúc ở Ngã tư Phú Nhuận, có lúc ở tòa soạn báo Lao Động, cũng có lúc giải khát với Trịnh Công Sơn ở Hội Văn nghệ TP HCM. Tôi mừng anh là một sĩ quan chiến tranh chính trị của quân đội VNCH cũ mà hội nhập được một cách dễ dàng với cuộc sống của Sài Gòn đổi thành TP HCM. Anh có cuộc sống mới khá sung túc, làm việc có hiệu quả, nổi danh họa, cũng nổi danh viết, lại có bà vợ trẻ hơn 40 tuổi, có thêm con trai. Sau ngày bà Điềm Phùng Thị về Huế và sau mấy cái tang Trịnh Công Sơn, Bửu Chỉ, chúng ta gặp nhau luôn.

Ta chơi với nhau vì tình bạn, và cùng vì chung sự quý mến những tài năng văn nghệ của các nhân tài quê vợ (đã quá cố) của anh. Anh mời tôi cộng tác với anh làm cuốn sách Trịnh Công Sơn (1939-2001), cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội họa và suy tưởng (Nxb Văn Nghệ TP HCM, 2002). Thế rồi, qua William Joiner Center, chúng ta có những ngày tháng 4 và 5 -2007 ngao du trên đất Mỹ. Giữa hai người, một kháng chiến chống Mỹ cũ và một cựu sĩ quan tâm lý chiến VNCH làm việc cho Mỹ, tuy quan điểm văn học nghệ thuật có khác nhau nhưng trong đời thường không có gì xung đột với nhau cả. Tôi rất quý NS TCS nên rất quý những bạn bè của Sơn như anh. Thế rồi không hiểu sao…anh đi dựng lên món quà “lịch sử” cúng giỗ lần thứ tám hương hồn NS TCS – người bạn quý của chúng ta làm cho tôi vô cùng sửng sốt.

◎◎◎

Anh Trịnh Cung,

Với bài “Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị” đăng trên trang Web: http://damau.org/archives/5055 ngày 1-4-2009), anh cho biết “…bài viết này tôi muốn bổ sung thêm những điều mà trong các cuộc nói chuyện về TCS ở Mỹ tôi đã không thể nói hết được. Một nửa sự thật cũng chưa phải là sự thật. Tôi tin vào điều tốt đẹp của sự thật.” với mục đích “cung cấp thêm tư liệu để làm rõ các mối quan hệ có tính dính líu vào hoạt động chính trị phản chiến thân Cộng của TCS“. Anh đánh giá cao những gì anh nung nấu 30 năm qua và anh sẵn sàng chấp nhận phải trả giá cho sự công bố ấy. Anh tự bạch: “Sự thật bao giờ cũng gây mất lòng, tôi đã tự hỏi mình nhiều lần trong nhiều năm qua: có nên viết nó ra, giải thoát cho nó khỏi ngục tù trong tôi suốt hơn 30 năm qua? Sự quằn quại của nó trong cái nhà tù ký ức cũng làm tôi đau buồn đến không chịu nổi. Giải phóng cho nó là giải phóng cho chính tôi, dù có phải bị trả giá”.

Nhưng dù sao, sau khi công bố những gì anh nung nấu 30 năm qua, anh cũng nhũn nhặn lịch sự kêu gọi: “Tôi xin cám ơn những ai sẽ đóng góp thêm những gì giúp cho bài viết này được hoàn hảo hơn, kể cả những phản biện”.

Vì anh yêu cầu, vì lời kêu gọi của bạn, tôi phải bỏ rất nhiều công sức để viết lá thư nầy.

Trước tiên tôi xin anh, xin độc giả gần xa, bạn bè thân quen cũ mới cho phép tôi góp ý, phản biện bài viết của anh Trịnh Cung với các lưu ý sau:

Một, một người cầm bút chân chính không được dẫn chuyện riêng, đời tư của người khác, đặc biệt là chuyện của bạn bè trong đời thường vào chuyện chính trị, chuyện công. Nhưng vì anh Trịnh Cung không thực hiện điều nên tránh đó, nên khi góp ý, phản biện những gì anh đã viết trong bài Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị, buộc lòng tôi “đạp gai phải lấy gai mà lể”, tôi có sử dụng nhiều hồi ức, nhiều kỷ niệm giữa những người bạn Trịnh Cung mà cũng là bạn của NS TCS và bạn tôi được anh nêu tên trong bài của anh;

Hai, ngoài bài Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị, tôi sử dụng thêm nhiều bài khác mà anh Trịnh Cung đã viết, đã nói, đã trả lời báo chí trước đó;

Ba, để “đóng góp thêm những gì giúp cho bài viết” của anh “được hoàn hảo hơn“[1], tôi phải sử dụng phương pháp bình luận sử học, bình luận từng phần một bài viết của họa sĩ Trịnh Cung. Vì thế cái thư nầy khá dài, mong Trịnh Cung và bạn đọc kiên nhẫn.

◎◎◎

1. Trịnh Cung viết:

“Vào năm 1971, tôi có mời Ngô Kha tới dự bữa cơm đầy năm Vương Hương, con đầu lòng của tôi tại nhà ở Phú Nhuận. Sau tàn tiệc, tôi đưa Ngô Kha ra về. Chúng tôi đi bộ từ ngã tư Phú Nhuận về hướng cầu Kiệu, khi gần đến chân cầu, Ngô Kha nói với tôi: “Cậu vào chiến khu với mình đi, có người dẫn đường đang chờ“. Tôi không ngờ lại bị Ngô Kha đưa vào thế kẹt. Lúc này, tôi đang là Trung Úy biệt phái dạy tại Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, vừa bị Nha Mỹ Thuật Học Vụ trả về lại Bộ Quốc Phòng vì được Mỹ cấp học bổng tu nghiệp mỹ thuật tại Trung Tâm Đông và Tây, Hawaii, Hoa Kỳ”[2]

Để thối thác lời đề nghị ghê gớm này của Ngô Kha, tôi dừng lại trong bóng đêm bên này cầu Kiệu và nói với anh: “Ông thấy con mình vừa đầy năm, bà xã còn quá trẻ và yếu đuối, làm sao mình bỏ nhà đi vào căn cứ với bạn được. Hơn nữa mình không đồng ý cách giết người của họ ở Huế hôm Tết Mậu Thân… thôi chúc bạn lên đường may mắn!”. Thế nhưng, sự việc sau đó lại đưa Ngô Kha đến một hoàn cảnh khác. Anh không đi vào rừng mà về Huế rồi bị bắt và chịu một cái chết bi thảm”.

“Ngô Kha đang là em rể của Trịnh Công Sơn”.

NĐX bình luận: Như trên đã dẫn, mục đích bài viết của anh là để “cung cấp thêm tư liệu để làm rõ các mối quan hệ có tính dính líu vào hoạt động chính trị phản chiến thân Cộng của TCS“. Mối quan hệ đầu tiên anh nhấn mạnh đến là NS TCS có người em rế Ngô Kha là cơ sở của Việt Cộng ở Huế, Sài Gòn. Chính Ngô Kha, sau buổi tiệc đầy năm con của anh, rủ anh vào chiến khu với Ngô Kha. Chuyện quan trọng ấy chỉ có hai người biết. Nay Ngô Kha đã bị thủ tiêu, không thể gọi hồn dậy được đẻ hỏi, vì thế phải tin lời của Trịnh Cung. Với tư cách một người bạn của Ngô Kha, một người đã có nhiều năm hoạt động ở đô thị, tôi thấy thông tin nầy của anh gợi lên nhiều điều khó hiểu.

- Ngô Kha là một thầy giáo, đỗ Cử nhân Luật, hoạt động chống chính quyền Sài Gòn lâu năm (ít nhất là từ 1966 đến 1971), sao lại thơ ngây đến mức rủ một sĩ quan chiến tranh chính trị của VNCH chưa từng có biểu hiện gì là có cảm tình với MTGP cả vào chiến khu? Nếu thơ ngây như thế thì có lẽ Ngô Kha đã mời nhiều người đã từng tham gia tranh đấu từ 1963 đến 1971 có biểu hiện “thân cộng” hơn là Trịnh Cung. Nhưng tôi chưa nghe Ngô Kha rủ ai cả. Và, hoạt động “nằm vùng” mà thơ ngây đến như thế thì có lẽ Ngô Kha đã bị bắt từ lâu rồi chứ không đợi chi đến năm 1971 vẫn còn được tự do đi ăn đầy năm con gái Trịnh Cung;

- Vì sao sau khi gặp Trịnh Cung, Ngô Kha – như Trịnh Cung viết: “Anh không đi vào rừng mà về Huế rồi bị bắt và chịu một cái chết bi thảm” . Lý do ? Phải chăng vì đã lỡ rủ Trịnh Cung và bị Trinh Cung từ chối nên sợ lộ nên phải bỏ chuyện lên chiến khu từ Sài Gòn?

- Sau khi biết chắc Ngô Kha có quan hệ với MTGP, Trịnh Cung có đi báo với những người thân quen của Trịnh Cung đang làm mật thám cho chính phủ Thiệu Kỳ không ?

- Phải chăng sau đó Ngô Kha bị Liên Thành bắt và thủ tiêu từ nguồn tin đáng tin cậy của họa sĩ Trinh Cung ?

Sự thật như thế nào chỉ có Trịnh Cung biết. Nhưng với kinh nghiệm tranh đấu ở đô thị đọc bài của Trịnh Cung trong đầu tôi không thể không đặt ra những thắc mắc ấy.

Giả dụ như Ngô Kha thực sự là cơ sở nội thành của MTGP, nhưng nếu không có tài liệu không ai dám qui kết Thúy – vợ Ngô Kha, cũng là cơ sở của MTGP hoặc có quan hệ với MTGP. Huống chi NS TCS là anh của Thúy, anh vợ của Ngô Kha thì có liên quan gì đến chuyện Ngô Kha hoạt động cho MTGP? Ở miền Nam, thiếu gì những gia đình anh là sĩ quan VNCH, em là Việt Cộng nằm vùng. (Ví dụ như gia đình tôi). Những người ấy đường ai nấy đi, có liên quan gì với nhau đâu. Huống chi Ngô Kha chỉ là em rể của NS TCS. Trịnh Cung dẫn chuyện Ngô Kha để ép NS TCS có liên quan đến MTGP gượng gạo quá. Ai mà tin được cái lý lẽ trẻ con, dễ dãi đến thế của anh.

Hơn nữa, nếu dùng phương pháp đặt vào miệng những người đã chết những thông tin bịa đặt theo ý mình như cách làm của Trịnh Cung, thì tôi có thể cung cấp cho giới viết tiểu sử, viết chân dung họa sĩ Trịnh Cung những chuyện sau:

“Năm 1982, tôi được Thành ủy Huế cử vào TP HCM trưng bày giới thiệu văn hóa Huế ở Hội chợ tổ chức tại Vườn Tao Đàn cũ. (chắc bác sĩ Trương Thìn còn nhớ). Họa sĩ Tôn Thất Văn đến giúp tôi trang trí cho gian hàng Huế. Trong khi làm việc tôi hỏi : “Lúc nầy Trịnh Cung làm ăn ra sao. Tôi muốn gặp để thăm ông bạn làm thơ của tôi năm xưa?” Tôn Thất Văn bảo tôi “Anh ta đi học tập cải tạo mới về được mấy năm. Hiện nay đang loay hoay kiếm sống. Nhưng mà ông không nên chơi với cái anh chàng lừa thầy phản bạn ấy làm gì. Chinh Trịnh Cung là người đã từng tìm cách lật đổ thầy Tôn Thất Đào ở Huế, người đã thừa lệnh Hoàng Đức Nhã vô ra Huế phá anh em Phong trào đúc tượng Phan Bội Châu, và nghe nói cũng chính Trịnh Cung vào Trại Cải tạo đã tố cáo anh em họa sĩ là sĩ quan biệt phái ở Huế mà “trốn cải tạo”.v.v.

Chuyện tôi kể thật giả như thế nào chỉ có Trịnh Cung biết. Nhưng tôi không thể viết những chuyện ấy ra vì Tôn Thất Văn đã không còn ở trên cõi đời nầy để xác nhận cho tôi và tôi cũng không có băng ghi âm để làm bằng chứng. Nhưng nếu Trịnh Cung dựng chuyện cho Ngô Kha như trên được thì tôi cũng có thể công bố những gì Tôn Thất Văn đã nói với tôi năm 1982 như trên được. Trịnh Cung dám chơi không ?

2.  Trịnh Cung viết: “Với bao nhiêu sự việc gắn kết với nhau, hoà quyện, ăn khớp, như thế mà chúng ta vẫn còn hoài nghi, vẫn biện bạch đây chỉ là một thứ tình cảm hồn nhiên hay hoa mỹ hơn, đấy là ý thức về thân phận dân tộc, tiếng nói đòi hoà bình đậm tính nhân bản cho quê hương của một người nghệ sĩ tài hoa như TCS, thì chi tiết sau đây đã được Nguyễn Đắc Xuân tiết lộ và đã xác nhận lại với tác giả bài viết này như sau: “Vào đêm ngày 29-5-1966, trên đường Trần Bình Trọng-Đà Lạt, Trần Trọng Thức (nhà báo), Nguyễn Ngọc Lan (linh mục, đã chết), Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đã cùng nhau bàn về một giải pháp chính trị cho trí thức yêu nước và người đưa ra sự chọn lựa rất quyết đoán và hợp ý với 3 bạn đồng hành với mình: “Không có con đường nào khác cho anh em mình ngoài Mặt trận Giải Phóng Miền Nam!”.

Vậy là đã quá rõ về khuynh hướng chính trị của Trịnh Công Sơn!”

NĐX bình luận: Thực chất sự kiện Trịnh Cung nêu trên như thế nào tôi đã viết trong bài Vô tình Trịnh Công Sơn có mặt trong những bước ngoặt đời tôi, (Trịnh Công Sơn có một thời như thế, Nxb Văn Học & TTNCQH, 2002, tr. 127-128). Tôi xin dẫn lại như sau:

Sắp lại cuộc cờ: Cuối tháng 4-1966, phong trào đấu tranh ở Huế cử tôi và Trần Duy Thọ (đã mất) lên Cao nguyên bàn biện pháp phối hợp với Phong trào ở Đà Lạt (do anh Hồ Hữu Nhật cầm đầu). Làm việc xong, vào đêm 30 tháng 4, mấy người bạn Huế đang có mặt ở Đà Lạt rủ nhau đi dạo phố đêm. Xuất phát từ một biệt thự của chi Sâm trên đường Trần Bình Trọng, vòng qua đồi Nhà thương để hướng lên phía phố. Ánh điện nhập nhòe trong sương mù mát dịu làm cho chúng tôi tách mình ra khỏi cái nóng bỏng của cuộc tranh đấu đang diễn ra suốt hai tháng qua ở miền Trung. Những người bạn Huế đêm ấy có Nguyễn Ngọc Lan, Trần Trọng Thức, Trịnh Công Sơn, chị Sâm (chủ biệt thự) và một ca sĩ mà sau này tôi được biết là Khánh Ly. Lúc ấy bài Tuổi Đá Buồn của Trịnh Công Sơn đang được ưa thích. Vừa đi Sơn vừa hát khe khẻ và bọn tôi hát theo. Cái hồn của bài nhạc gợi cho chúng tôi phải đề cập đến sự tàn bạo của cuộc chiến tranh của Mỹ đang diễn ra ở Việt Nam. Nhạc của Sơn nhưng vấn đề của bài nhạc là của cả thế hệ sống ở đô thị chúng tôi (theo cách nghĩ của tôi lúc ấy). Từ mùa hè 1965 chúng tôi đã theo khẩu hiệu trước Morin Huế “To be or not to be” (Sống hay là chết), “Không thể lấy tuổi trẻ Việt Nam làm củi đốt cho lò lửa chiến tranh“. Càng tranh đấu ở đô thị thì cuộc chiến càng diễn ra ác liệt ở nông thôn và rừng núi. Nói đến chuyện chiến tranh là nói đến sự bất lực của mình. Trịnh Công Sơn vừa đi vừa bảo chúng tôi:

-”Không ai hiểu được sự bất lực của chúng ta bằng chính chúng ta”.

L.m. Nguyễn Ngọc Lan tiếp lời:

-”Bây giờ không còn con đường nào khác là con đường của Mặt trận Giải phóng“.

Trịnh Công Sơn:

-”Có lẽ!”.

Cho đến lúc đó tôi vẫn còn “thuần túy” là một sinh viên Phật tử, chưa hề có một tiếp xúc nào với cơ sở của Mặt trận Giải phóng. Nhưng không hiểu sao tôi cứ bị báo chí Sài Gòn và nhiều bạn bè nghi tôi là người của Mặt trận. Do đó mỗi khi nghe ai đề cập đến Mặt trận Giải phóng là tôi liền nghĩ họ nói để thăm dò tôi và tôi phản ứng lại bằng cách tảng lờ. Tuy nhiên, đêm hôm đó tôi không thể tảng lờ được trước nhận định của L.m. Nguyễn Ngọc Lan và Trịnh Công Sơn. Tôi không biểu đồng tình với hai người ấy nhưng hai chữ Mặt trận Giải phóng qua miệng hai người ấy đã ẩn sâu vào tâm trí tôi. Một ánh lửa lóe lên ở cuối đường hầm của cuộc đấu tranh đô thị”.

Câu chuyện chỉ có thế. Chuyện tôi kể và in thành sách lúc Nguyễn Ngọc Lan còn tại thế. Ngày nay, Trân Trọng Thức còn đó, ca sĩ Khánh Ly còn bên kia. Mà có gì quan trọng đâu ? Một ý kiến tản mạn dọc đường, làm gì có chuyện như anh đã tô màu phóng to lên trong bài viết thành chuyện chúng tôi “đã cùng nhau bàn về một giải pháp chính trị cho trí thức yêu nước“. Cuộc tranh đấu năm 1966 bị dìm trong biển máu, “con đường của lực lượng thứ ba” đã tắt, tất cả những người tham gian tranh đấu không chịu đầu hàng quân đội Thiệu Kỳ đều có ý nghĩ như L.m. Nguyễn Ngọc Lan: -”Bây giờ không còn con đường nào khác là con đường của Mặt trận Giải phóng“.

Trịnh Cung vin vào ý kiến “Có lẽ!” của NS TCS mà khẳng định rằng Trịnh Công Sơn là hoạt động cho MTGP là chụp mũ một cách dễ dãi quá! Mà cần gì phải bịa đặt, lượm lặt những thông tin rời rạc rồi kết lại thành chuỗi chứng minh “TCS thiên Cộng”, “Trịnh Công Sơn hoạt động cho MTGP”. Chỉ cần nghe lại các Ca Khúc Da Vàng, Kinh Việt Nam (1968), Ta Phải Thấy Mặt Trời (1969), Phụ Khúc Da Vàng (1972), trong những tập này nhiều bài mang tính, và dùng cả từ “cách mạng” cũng có thể thấy rõ khuynh hướng nghiêng về phía MTGP của Trịnh Công Sơn rồi.

Cũng giống như Jean Paul Sartre chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Có ai bảo J.P.Sartre là cơ sở của MTGP đâu? Thầy Nhất Hạnh với Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện[3], Phạm Duy với Kỷ vật cho em cũng ” thiên Cộng” sao ? Và bản thân tôi như anh đã biết với Để lại cho em (lời Tâm ca số 5), Nhân danh, Chuyện hai người lính (thơ NĐX, được Phạm Duy phổ nhạc), nhiều người nghĩ tôi hoạt động cho MTGP nhưng lúc làm các bài thơ đó nào tôi có biết gì về MTGP đâu!

- Vừa rồi có người ngồi bên quán cà-phê bên đầu cầu Trường Tiền đọc bài viết của anh, họ đặt câu hỏi: “So với nhiều họa sĩ trong Hội họa sĩ Trẻ Sài Gòn lúc đó, Trịnh Cung không có gì nổi trội lắm, vì lý do gì mà anh ấy lại được:”Mỹ cấp học bổng tu nghiệp mỹ thuật tại Trung Tâm Đông và Tây, Hawaii, Hoa Kỳ” ? Chắc họa sĩ trẻ Trịnh Cung có công gì đó với chính quyền thân Mỹ anh mới được ưu ái đến thế chứ?” Tôi phản ảnh lại để anh rõ. Nếu có dịp anh nên giải đáp thắc mắc ấy.

Anh Trịnh Cung,

Như anh đã biết, hoạt động cho MTGP vô cùng nguy hiểm đến sự nghiệp, đến tánh mạng, không lương tiền, đói, khát, bệnh tật, nhiều khi còn bị chính người của MTGP nghi ngờ nữa, thế mà sao giới trí thức có tư duy dân tộc lúc ấy lại hướng về MTGP đông đến thế?

Trong bài viết của anh, phần lớn những người tai mắt đương thời đều hoạt động cho MTGP cả! Vì lý do gì ? Có phải vì khát vọng hòa bình, chấm dứt chiển tranh, thống nhất đất nước, thống nhất dân tộc không? Có phải vì tiếng nói của lương tri không? Bất cứ ai quen biết anh lúc ấy đều có thể trả lời câu hỏi đó một cách dễ dàng. Nhưng anh thì sao?

Câu chuyện “con đường của MTGP” giữa chúng tôi nêu trên anh mới nghe lõm bõm gần đây thôi. Anh cũng mới hỏi tôi hồi cuối tháng 3-2009 vừa rồi. Thông tin “thân cộng” nầy của NS TCS chắc không nằm trong những gì anh đã nung nấu 30 năm qua phải không ?

3. Trịnh Cung viết:“Những ngày trước 30-4-75, Sài Gòn rơi vào tình trạng hỗn loạn. Người thân cộng thì hí hửng, người quốc gia thì lo âu và tìm đường bỏ nước. Mọi thứ sinh hoạt đều tê liệt, tôi nằm trong số người chịu trận, bế tắc, no way out. Trong thời điểm tinh thần sa sút này, tôi thường ghé qua nhà TCS để tìm một thông tin tốt lành vì anh có nhiều mối quan hệ, nhưng cũng không được gì vì TCS từ chối ra đi và cho biết sắp nhận chức Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hoá trong chính phủ Dương Văn Minh lên thay Thiệu-Kỳ, em trai TCS là đại uý Trịnh Quang Hà sẽ được giao làm Cảnh sát Trưởng quận 2 (nay là quận 1). Thế là xong, TCS sẽ tham gia chính quyền được chuyển từ tay Nguyễn Văn Thiệu để thương lượng hoà bình với quân GP đang bao vây Sài Gòn và doạ sẽ tắm máu Sài Gòn nếu VNCH không buông súng.”

NĐX bình luận: Anh đã qui kết cho NS TCS là hoạt động MTGP vì có em rể Ngô Kha hoạt động cho MTGP đã bị thủ tiêu, “đã cùng nhau (Nguyễn Ngọc Lan, Trần Trọng Thức, Nguyễn Đắc Xuân…) bàn về một giải pháp chính trị cho trí thức yêu nước“.v.v thế vì sao đến lúc MTGP sắp thắng lợi anh không đến nhờ NS TCS -người của MTGP, giúp đỡ che chở cho anh với chính quyền mới mà lại đến “tìm một thông tin tốt” để tìm đường bỏ nước “ra đi” và anh đã hết sức thất vọng vì “TCS từ chối ra đi”.

Từ ý thức chính trị như thế đến hành động như thế anh có thơ ngây, mâu thuẫn không ? Như trên đã bình luận, năm 1971, Ngô Kha hoạt động cho MTGP mời một anh sĩ quan VNCH vào chiến khu. Trước 30-4-1975, họa sĩ Trịnh Cung- một anh sĩ quan VNCH chạy tới nhà một người hoạt động cho MTGP để tìm đường bỏ nước ra đi. Không thể nói là thơ ngây mà phải nói là ấu trĩ, khôi hài.

Anh hạ uy tín của NS TCS bằng cách giải thích việc NS TCS từ chối ra đi vì “tham vọng chính trị” vì “sắp nhận chức Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hoá trong chính phủ Dương Văn Minh”. Anh cho biết chuyện nầy do kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đống đạo diễn. Đối với tôi, KTS Đống không phải là người xa lạ, ngay bây giờ tôi có thể gặp anh dễ dàng, tôi có thể “sếc” lại chuyện đó thực hư như thế nào, nhưng tôi không quan tâm nên không cần “sếc”. Bởi vì tôi biết rất rõ vì sao NS TCS không bỏ nước ra đi ngay trước 30-4-1975, sau đó và mãi mãi cũng không ra đi, không ra đi dù tất cả người thân trong gia đình (trừ bà Thanh – thân mẫu của nhạc sĩ) đã lần lượt ra đi. Vì một lý do rất đơn giản:

Từ sau năm 1972, Mỹ đã bắt tay Trung Quốc, họ không cần dùng Miền Nam Việt Nam làm “tiền đồn chống Cộng nữa, ở lại Việt Nam thiệt hại về người và của quá, lại bị dân Mỹ phản đối kịch liệt nên họ buộc lòng phải ký Hiệp định Paris 1973, rút quân, giao cuộc chiến tranh chống Cộng lại cho VNCH. Để tránh cuộc chiến người trong một nước giết nhau. NS TCS hoan nghinh chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc của MTGP, anh đã sáng tác các bài Hà Nội Huế Sàigòn, Nối vòng tay lớn để hô hào, cổ vũ cho tinh thần hòa hợp, hòa giải dân tộc. Các bài nhạc được quần chúng hết sức hoan nghênh. Tôi chưa hề được biết có dư luận nào phản đối các bài nhạc đó.

Ngày 30-4-1975, chiến tranh chấm dứt tại Sài Gòn mà không đổ máu, ước mơ trong các bài hát của NS TCS đã trở thành hiện thực. Có hạnh phúc nào bằng? Rồi ngay trong cái giờ phút lịch sử kết thúc 30 năm chiến tranh Việt Nam vô cùng thiêng liêng đó, NS TCS có mặt ở Đài Phát thanh Sài Gòn hát Vòng Tay Lớn cho toàn dân nghe, cho thế giới biết, tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc của Việt Nam. Vinh dự biết bao! Thế hệ chúng tôi tự hào có NS TCS phát lên tiếng gọi hòa hợp hòa giải dân tộc đầu tiên ngay sau khi chấm dứt chiến tranh. Làm một người nghệ sĩ, NS TCS chỉ cần sự kiện sáng tác Nối vòng tay lớn, hát Nối vòng tay lớn như thế là đã có tên trong bảng đồng bia đá rồi.

Trịnh Cung – mang tâm cảnh của một người lính thất trận làm sao hiểu được hạnh phúc của NS TCS trong giờ phút vinh quang ấy nên mới đến nhà Trịnh Công Sơn tìm đường chạy ra nước ngoài. Xin hỏi Trịnh Cung, giả dụ như lúc đó NS TCS chạy ra nước ngoài với anh thì Sơn sẽ đạt được điều gì? Nếu ra nước ngoài mà vinh quang hơn tại sao sau nầy anh có nhiều chuyến đi Mỹ anh không xin tỵ nạn bên đó mà lại cứ về Việt Nam?

Tư tưởng nhân bản nhất của NS TCS là tinh thần hòa hợp, hòa giải dân tộc. Yêu quý NS TCS là không ngừng hoạt động cổ vũ tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc của nhạc sĩ. Bao giờ anh Trịnh Cung chưa cởi bỏ được tâm trạng hối tiếc mất chế độ VNCH thì anh không thể nào hiểu được Trịnh Công Sơn – người anh khâm phục, mến mộ và là bạn thân nhất của anh. Anh đừng nên lấy những chức nầy, cấp nọ tầm thường của cuộc đời nhiễu nhương vừa qua để hạ thấp vai trò lịch sử của NS TCS.

Để anh hiểu rõ hơn lý do vì sao NS TCS không ra nước ngoài, tôi xin trích một đoạn trong bài phỏng vấn Với Trịnh Công Sơn một buổi đầu xuân (Mậu Dần, 1998). Toàn bài phỏng vấn đã được Trịnh Công Sơn đọc lại trước khi đăng báo Lao Động ngày 14-2-1998, và đã đăng lại trong cuốn Trịnh Công Sơn có một thời như thế (Văn Hoc 2002, tr.13-16) của tôi.

[...]NĐX: [...] Anh có cảm tưởng gì trong những ngày ở Singapore cũng như những nước đã sống qua?

TCS: Theo mình, Singapore cũng như những nước phát triển khác, rất văn minh, rất hiện đại, hoàn chỉnh đến mức không gây cho mình một cảm xúc nào nữa. Do đó nó xa lạ với mình. Mới qua Singapore hai ngày mình đã muốn về VN ngay, nhưng cận Tết không đổi vé được. Nằm một tuần ở Singapore mình nhớ nhà quá sức! Nhớ dáng dấp VN, da thịt VN, giọng nói VN…

NĐX: Đó cũng là tâm trạng của nhiều người VN ở nước ngoài lâu nay. Do thiếu quê hương nên nhiều nghệ sĩ rất giỏi vẫn không có nhiều sáng tác hay. Anh nghĩ gì về quê hương trong những ngày này?

TCS: Mình vừa vượt qua được cơn bạo bệnh, mừng được thấy đất nước đổi mới từng ngày. Có sống qua những ngày gian khổ khó khăn giờ đây mới thấy được ý nghĩa của những gì có được. Một thế hệ mới đang được đào tạo cho thế kỷ XXI. Mình mong được làm người nghệ sĩ nối hai thế kỷ.

NĐX: Anh có nhớ cái thuở bọn mình lớn lên trong chiến tranh?

TCS: Nếu được đào tạo như bây giờ thì chắc chắn bọn mình không phải như bây giờ. Chính trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước, mỗi con người trong chúng ta phải tự đi tìm cho mình một cách thế riêng, tự khẳng định mình.”

NS TCS có nói thêm với tôi một câu nữa mà lúc đó tôi không tiện viết ra: “Thú thật, mình xa cái đất nước nầy mình chịu không nổi và cũng không sáng tác được ông à ! Bọn mình mà sống sướng chưa chắc đã làm được như đã làm ! Mình sáng tác trong hoàn cảnh khó khăn, trong lúc vui buồn với đất nước. Sống sướng về vật chất chưa chắc đã sáng tác được. Sống mà không sáng tác được làm sao sống ông ? Các em mình chúng đi hết rồi. Nếu mình bị bắt ra nước ngoài chắc mình phải vượt biên ngược về thôi !”.

Suốt mấy chục năm chơi với NS TCS có bao giờ Trịnh Cung được nghe một lời tâm sự như thế không ? Tôi đoan chắc chưa bao giờ.

4. Trịnh Cung viết: Từ sự kiện tại Đà Lạt mà Nguyễn Đắc Xuân đã nhắc đến ở trên cho đến ngày 30-4-75 không có một chỉ dấu nào cho thấy có mối liên lạc về mặt tổ chức giữa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Trịnh Công Sơn. Thậm chí khi anh được kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái đưa đến Đài Phát Thanh Sài Gòn để hát bài Nối Vòng Tay Lớn mừng chiến thắng lịch sử 30-4-75, TCS, tác giả của ca khúc có tính dự báo cho ngày huy hoàng này của quân Giải phóng và bi thảm cho phía VNCH, cũng bị Tôn Thất Lập, một nhạc sĩ chủ chốt trong phong trào Hát Cho Đồng Bào đã thoát ly đi theo MTGPMN, đuổi ra khỏi phòng thu: “Mày có tư cách gì mà hát ở đây!”…

NĐX bình luận: Với ba sự kiện nêu trên, anh cố chứng minh NS TCS là người của MTGP hoặc có nhiều sáng tác nghiêng về MTGP. Đên đây anh lại viết “Từ sự kiện tại Đà Lạt (4-1966) mà Nguyễn Đắc Xuân đã nhắc đến ở trên cho đến ngày 30-4-75 không có một chỉ dấu nào cho thấy có mối liên lạc về mặt tổ chức giữa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Trịnh Công SơnNhư vậy anh đã mâu thuẫn với anh, trái với mục đích anh muốn đạt đến là “làm rõ các mối quan hệ có tính dính líu vào hoạt động chính trị phản chiến thân Cộng của TCS”. Hay anh phải bất chấp sự mâu thuẫn ấy để có đủ lý lẽ giải thích sự việc NS TCS vào Đài Phát thanh Sài Gòn hát Nối vòng tay lớn trưa hôm 30-4-1975 để “bị Tôn Thất Lập, một nhạc sĩ chủ chốt trong phong trào Hát Cho Đồng Bào đã thoát ly đi theo MTGPMN, đuổi ra khỏi phòng thu: “Mày có tư cách gì mà hát ở đây!”?

Không rõ ai đã cung cấp thông tin nầy cho Trịnh Cung, theo tôi hồi cuối năm 1974, Tôn Thất Lập, Nguyễn Xuân Lập và một số thanh niên sinh viên Sài Gòn Huế gặp nhau ở Hà Nội. Cuối tháng 3-1975 Tôn Thất Lập và Võ Như Lanh có mặt ở Paris. Ngày Giải phóng miền Nam 30-4-1975, Tôn Thất Lập đang ở Pháp. Và cũng được biết đến tháng 8-1975 Tôn Thất Lập mới về nước. Nên không thể có chuyện Tôn Thất Lập tàng hình về Sài Gòn đuổi Trịnh Công Sơn như anh viết. Ngày 7-4-2009, trả lời Đài BBC, anh khẳng định những gì anh viết trong bài Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị là đúng sự thực và anh chịu trách nhiệm.

Anh chịu trách nhiệm về sự bịa đặt nhạc sĩ Tôn Thất Lập “đuổi Trịnh Công Sơn ra khỏi phòng thu” trưa ngày 30-4-1975 như thế nào? Anh xuyên tạc hạ nhục NS TCS vào đúng cái giờ phút vinh dự nhất, hạnh phúc nhất của cuộc đời Trịnh Công Sơn. Đồng thời anh cũng gây một sự mất mát giữa hai nhạc sĩ cùng quê, cùng thời, cùng là bạn đồng hành trên con đường giải phóng dân tộc. Đến bao giờ anh mới có lời xin lỗi công khai về sự bịa đặt khốn khổ nầy ? Nếu anh không có lời xin lỗi thích đáng, tôi tin những bạn bè, những người yêu Việt Nam từ suối nguồn âm nhạc Trịnh Công Sơn sẽ đưa anh ra tòa.

5. Trịnh Cung viết: “Trở lại sống trong căn hộ cũ 11 Nguyễn Trường Tộ – Huế, TCS quây quần với bạn bè cũ và mới không được bao lâu thì cả thành phố Huế lên cơn sốt đả đảo TCS và Phạm Duy. Các biểu ngữ được giăng ở các trường đại học và TCS phải lên Đài truyền hình Huế đọc bài tự kiểm điểm. Sự cố lần này cũng lại do một nhạc sĩ tổ chức, nhạc sĩ Trần Hoàn, Giám đốc Sở VH&TT tỉnh Bình Trị Thiên.

Thế là TCS đã tránh được vỏ dưa SG nay lại găp vỏ dừa Huế! Sự bé cái lầm lần này, có lẽ do TCS đã kỳ vọng ở bạn mình quá nhiều nhưng thực tế vai trò trong lực lượng tiếp quản Huế của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân rất khiêm tốn, chính họ cũng đang phải cố gắng phấn đấu để được kết nạp vào đảng thì làm sao bao che cho tác giả của 2 ca khúc từng bị người CSVN kết án (Ca khúc “Gia Tài Của Mẹ” với câu: “Hai mươi năm nội chiến từng ngày” đã xúc phạm đến đại cuộc chống Mỹ cứu nước của người CSVN và ca khúc “Cho Một Người Nằm Xuống” để thương tiếc Lưu Kim Cương – đại tá không lực VNCH chết bởi đạn của quân GPMN – người bạn một thời đã từng dùng máy bay không quân đưa TCS lên Đà Lạt thăm Khánh Ly hoặc ngược lại, đón Khánh Ly về hát với TCS) tại Sài Gòn?”

“Lần này ở Huế, tính tẩy chay TCS nghiêm trọng và công khai hơn hẳn vụ ở Đài Phát Thanh SG vừa qua. Tình bạn cũ trong trái tim TCS sụp đổ đã đành mà giấc mơ “Khi đất nước tôi thanh bình/Tôi sẽ đi thăm…” tưởng dễ thực hiện của anh cũng bị dập tắt. Những tháng ngày tiếp theo ở Huế, TCS sống như một con tin trong Hội Văn Nghệ Bình Trị Thiên, thường xuyên được tổ chức bố trí đi lao động thực tế trên những cánh đồng vào mùa khô cũng như mùa lụt, không hơn gì một người phải chịu cải tạo“.

NĐX bình luận: Đọc đoạn trích nầy, tôi không ngạc nhiên, vì cơ bản nội dung của đoạn trích anh đã nói trong buổi sinh hoạt tưởng niệm Trịnh Công Sơn tổ chức vào ngày 4-4-2001 tại phòng sinh hoạt Người Việt, Little Sàigòn, nam California và được tạp chí Văn số 53&54 (tháng 5&6 -2001, đặc biệt về Trịnh Công Sơn), in lại từ tr. 77 đến tr. 83. Có lẽ anh quên anh đã nói vung mạng hôm đó như thế nào nên tôi cũng chép lại đây để anh có dịp so sánh cái “một nửa sự thật” nói hồi thang 4 – 2001 và “toàn bộ sự thật” anh vừa công bố hồi đầu tháng 4-2009 nầy như thế nào.

Sau đó Sơn phải về Huế để tìm một nơi nương tựa bởi vì ở đó Sơn có nhiều anh em. Anh hy vọng là họ sẽ giúp đỡ nình, , nhưng, tránh võ (sic) dưa gặp võ (sic) dừa, ở đây Sơn còn bị nặng hơn nữa là bị tố cáo tại các trường học, các biểu ngữ giăng lên. Sơn phải lên đài truyền hình Huế nhận lỗi của mình – mà người ta gọi là bài thu hoạch. Sơn rất khéo léo trong bài nhận lỗi đó. Chính Sơn kể cho tôi nghe – Hoàng Phủ Ngọc Tường không đồng ý bài đó, nói phải viết lại vì chưa thành thật. Bạn thấy chưa ?

Người ta quyết liệt ghê gớm lắm trong sư kiểm soát. [...] Sau đó, Sơn phải đi thực tế, tức là đi để biết người nông dân cày bừa cực khổ như thế nào. Sơn đi trên những cánh đồng còn rải rác những chông mìn. Sơn đã thoát chết trong một lần; một con trâu đã cứu Sơn khi nó đạp quả mìn mà đáng lẽ Sơn đã đạp”. (TC Văn đã dẫn tr.80-81).

NĐX bình luận tiếp: Những gì anh nói, anh viết trong hai lần trích trên anh cho là “sự thực” cả. Chuyện anh kể (nếu có) xảy ra trong thời gian anh đang bóc lịch trong Trại Cải tạo. Ai đã kể lại cho anh nghe như thế ? Anh đã “sếc” lại chưa? Hay anh lại đáp “Chính Trịnh Công Sơn đã kể với anh ? Anh không trưng dẫn được người kể, cũng chưa “sếc” lại, thì có thể xem là sự thực được không ? Trong hai lần nói và viết cách nhau 8 năm ấy, lần nào là “thật” hơn lần nào ? Hay một ai đó mang tâm cảnh chống chính thể mới đã nghe lóm ở đâu đó rồi kể lại với anh một cách ác ý, bịa đặt, xuyên tạc. Anh cũng mang tâm địa đồng điệu với người kể nên vớ ngay và bóp méo công bố vung vít ở những nơi anh nghĩ là không có người tranh cải với anh.

Sự thực đầu đuôi câu chuyện nầy như thế nào tôi cũng đã viết trong bài Tâm tình một người nghiên cứu Huế với thiên tài âm nhạc Trịnh Công Sơn đăng trong sách Trịnh Công Sơn có một thời như thế (Nxb Văn Hoc và TTNCQH, 2002, tr. 95-119). Có lẽ anh chưa đọc, tôi trích lại tặng anh sau đây để anh có dịp suy ngẫm:

[...]“Công” nhiều hơn “tội” (nếu có).

Trước ngày thống nhất đất nước nhiều sinh viên Huế bị đánh bật khỏi Huế, hoặc bị địch bắt đưa vào giam ở các tỉnh phía Nam hoặc bị đưa ra đảo cầm tù. Sau ngày giải phóng, những người có trách nhiệm với Phong trào sinh viên học sinh Huế đánh điện mời anh em về Huế. Hai người về trước là hoa sĩ Bửu Chỉ và sinh viên Luật Nguyễn Duy Hiền. Có lẽ do tác động của anh Nguyễn Khoa Điềm (Phó ban Tuyên giáo Thành ủy Huế) và Hoàng Phủ Ngọc Tường (Trưởng ty Thông tin Văn hoá Quảng Trị vừa về công tác ở Huế) nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng được mời về Huế để lập Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế. Như thế Trịnh Công Sơn thoát được cái “không khí nghi kỵ” ở Sài Gòn thời gian sau tháng 5-1975.

Rồi một hôm…đi ngang qua trường Đại học Sư phạm, tôi thấy mặt trước trường treo một tấm banderole to tướng mang dòng chữ xanh rờn: “Hạ bệ Phạm Duy-Hoàng Thi Thơ và Trịnh Công Sơn”. Tôi hơi bất ngờ nhưng rồi tôi cũng hiểu được. Tôi nghĩ ngay đến mối quan hệ giữa một số anh em Phong trào ở Đại học Sư phạm với những người mà sau nầy gọi là “các ông Ba mươi” ở Sài Gòn. Tôi hiểu được chuyện quá khích đó một phần nhờ vào những hiểu biết Phong trào Vệ binh đỏ của Trung Quốc mà tôi đã thu thập được trong thời gian nằm chữa bệnh ở Quế Lâm. Khẩu hiệu tranh đấu treo lên thì rất dễ nhưng lấy xuống thì cả một vấn đề. Tôi cũng như nhiều người bạn yêu quý Trịnh Công Sơn thấy việc sinh viên Đại học Sư phạm Huế đặt thái độ chính trị của Trịnh Công Sơn ngang với Phạm Duy và Hoàng Thi Thơ là không đúng với thực tế nhưng không ai dám lên tiếng bảo vệ. Bản thân tôi tuy là Đảng viên nhưng lý lịch quan hệ lung tung, nếu phát biểu “ngoài luồng” là bị qui là “xét lại” ngay. Vì thế có nhiều người đến Hội Văn nghệ than phiền với tôi về tấm banderole nêu trên, tôi vẫn ngậm câm. Trịnh Công Sơn rất buồn, không ngờ anh về quê hương lại bị giội một gáo nước lạnh như thế.

Một buổi tối, tôi được mời toạ đàm tại Hội Văn Nghệ để trả lời câu hỏi “Trịnh Công Sơn có công hay có tội?” Cuộc toạ đàm hôm ấy tôi còn nhớ rõ có Lê Khắc Cầm (đại diện cho cơ sở trí thức ở Huế), Trần Viết Ngạc (Phụ trách giáo dục) Trần Hoàn (Trưởng ty TTVH), Thanh Hải, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân (các cây bút chủ chốt của Hội Văn Nghệ vừa ở chiến khu về), và một vài người nữa tôi không còn nhớ tên…Tôi không nhớ những ai đã phát biểu lên án và những ai đã bảo vệ cho nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tôi chỉ nhớ anh em đề cập đến “tội” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là anh đã làm nhạc phản chiến một cách chung chung, không phân biệt được chiến tranh xâm lược và chiến tranh giải phóng dân tộc (bài “Gia Tài Của Mẹ” với câu Hai mươi năm nội chiến từng ngày), thậm chí anh còn làm nhạc ca ngợi địch (bài “Cho Một Người Nằm Xuống thương tiếc Đại tá không quân Sài Gòn Lưu Kim Cương tử trận)…Nhiều người phát biểu biện hộ cho Trịnh Công Sơn:”Đúng là Trịnh Công Sơn đã làm nhiều bản nhạc phản chiến, anh được mệnh danh là người làm nhạc phản chiến số 1 thời ấy giống như Bob Dylan, Joan Baez ở bên Mỹ. Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ tự do, anh theo đuổi chủ nghĩa nhân bản chung chung khác chúng ta. Nhưng anh làm nhạc trong vùng tạm chiếm, người nghe nhạc phản chiến của anh là lính Cộng hoà.

Rất nhiều lính của Thiệu đã bỏ ngũ vì nghe bản nhạc Người con gái da vàng của anh. Chẳng có người lính cách mạng nào bỏ ngũ vì nghe nhạc của Trịnh Công Sơn cả. Cũng như ngày xưa bên Trung Quốc, Trương Lương thổi sáo đâu phải để cho quân mình buông kiếm ! Đâu phải tự dưng chính quyền Thiệu ra lịnh tịch thu những bài hát của Sơn”. Để minh hoạ cho ý tưởng đó, một anh nào đó (hình như anh Trần Viết Ngạc hay anh Lê Khắc Cầm gì đó tôi không nhớ) lấy trong cặp ra một xấp báo Sài Gòn xuất bản trước tháng 5.1975 có đăng lịnh của Thiệu cấm phổ biến nhạc Trịnh Công Sơn, lịnh cấm mang số 33 ngày 8.2.1969. Xấp tư liệu có sức thuyết phục lớn đối với những người tham dự toạ đàm. Trong không khí dễ cảm thông đó, hình như anh Hoàng Phủ Ngọc Tường đã kể : “Hồi ở trên rừng khi nghe Trịnh Công Sơn sáng tác bài Cho một người nằm xuống thương tiếc Đại tá không quân Sài Gòn Lưu Kim Cương tôi rất tiếc cho Sơn. Sau nầy được biết, trong những năm tháng Sơn trốn lính căng thẳng, Lưu Kim Cương đã tận tình che chở cho Sơn, chính vì cái ơn ấy mà Sơn đã viết bài ấy. Ta nên thông cảm cho hoàn cảnh đặc biệt của một người nghệ sĩ”.

Kể “tội” xong, anh em nói đến “công” của Sơn. Trịnh Công Sơn đã cùng với Ngô Kha làm báo Tự Quyết, Mặt Trận Văn Hoá Dân Tộc Miền Trung – do cơ sở của Thành úy Huế tổ chức. Sơn sáng tác nhiều bài nhạc kêu gọi hoà bình hoà hợp dân tộc thống nhất đất nước theo chủ trương của Mặt trận Giải phóng như các bài Hà Nội-Huế-SàiGòn, Nối Vòng Tay Lớn, Ngọn Lửa Thích Chơn Thể… Những bài nhạc nầy có ảnh hưởng tốt đối với các phong trào đấu tranh yêu nước ở các đô thị miền Nam trước ngày đất nước thống nhất.

Kết luận của cuộc toạ đàm là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lúc chưa có hoàn cảnh quan hệ với Cách mạng thì có một quan điểm yêu nước chung chung, Sau khi quan hệ với cơ sở cách mạng (trong đó có Ngô Kha), quan điểm lập trường của Trịnh Công Sơn trong giai đoạn cuối của cuộc đấu tranh yêu nước đứng hẵn về phía Cách mạng. Như thế “công” của Trịnh Công Sơn lớn hơn ‘tội” của anh (nếu có).

Sau cuộc toạ đàm tổ chức giao cho anh Hoàng Phủ Ngọc Tường- bạn thân của Trịnh Công Sơn, trao đổi với Trịnh Công Sơn viết tự nhận xét mình. Đây là một hình thức kiểm điểm cán bộ – một sinh hoạt thường xuyên của tổ chức cách mạng. Cho đến lúc ấy tôi và anh Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tự kiểm điểm không biết bao nhiều lần. Những bản kiểm điểm nói không đúng vấn đề thường bị viết lại. Chính vì thế mà có người muốn được thông qua đã viết quá về những khuyết nhược điểm của mình để cho xong việc. Với kinh nghiệm ấy anh Tường đã khuyên Trịnh Công Sơn nên làm lẹ đi. Trịnh Công Sơn chưa quen lối sinh hoạt nầy cho nên có ý trách anh Tường “đã ép Trịnh Công Sơn”. Về sau có người khai thác chuyện nầy gây cho quần chúng yêu mến Trịnh Công Sơn ở trong nước và ngoài nước suốt một thời gian dài hiểu lầm anh Tường đến nỗi những người hiểu anh Tường phải đứng ra “làm chứng” cho anh Tường mới dập tắt được sự hiểu lầm ấy.

Tôi không nhớ tấm banderole treo trước Đại học Sư phạm được lấy xuống trước hay sau khi có cuộc toạ đàm “Trịnh Công Sơn có công hay có tội”. Nhưng dù sao hai sự kiện ấy cũng có quan hệ với nhau. Nhờ sự đánh giá của cuộc tọa đàm, dư luận trong các cơ quan tư tưởng chính trị (văn hoá văn nghệ) yên tâm về người nhạc sĩ đã có ảnh hưởng lớn trong quần chúng trước tháng 5.1975 ở miền Nam.

Đi cải tạo hay đi sản xuất tự túc ?

Tôi không rõ căn cứ vào tài liệu nào mà có người (kể cả một người thân nào đó của Trịnh Công Sơn nói trên đài VOA) [4] bảo rằng sau tháng 5-1975, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã bị đi cải tạo ở Thừa Thiên Huế. Nhiều bạn bè của tôi rất có uy tín, rất được tín nhiệm ngày nay hồi ấy cũng đã từng bị đi cải tạo một thời gian. Không riêng gì những người có dính một chút với “ngụy quân ngụy quyền” phải đi cải tạo, hồi còn chiến tranh, nhiều cán bộ đảng viên cách mạng hẵn hoi chỉ vì một câu nói bị hiểu lầm cũng đã phải mang ba-lô vào trại sản xuất kia mà. Cho nên hối ấy, nếu không được Thành ủy Huế và các anh chị em trong Phong trào hiểu Trịnh Công Sơn, Trịnh Công Sơn (với những cái “tội” nêu trên) có bị đi cải tạo ít tuần cũng là chuyện bình thường. May mắn là chuyện ấy không hề xảy ra đối với anh. Các hoạ sĩ Đinh Cường (hiện ở Virginia, Mỹ), hoạ sĩ Tôn Thất Văn (hiện ở Thành phố HCM), nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà dịch thuật Bửu Ý, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đang sống ở Huế) rất thân thiết với Trịnh Công Sơn đều khẳng định không có chuyện ấy. Thế mà có người viết:

Vùng kinh tế mới – nơi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bị đày dưới hình thức lao động cải tạo nằm ngay biên giới của tỉnh Quảng Trị. Những ngày lụt nước ngập ngang ngực, ngày nào cũng có người bị chết hoặc bị thương do mìn nổ. Ở đó, một gia đình nông dân có con gái ái mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, cho ông mượn trâu để cày bừa…” (Hoàng Dược Thảo, Những sự thật nên viết ra về một thiên tài âm nhạc vừa năm xuống, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn… tài liệu lấy trên Internet, tr.2/7).

Nhưng vì sao lại có dư luận ấy? Theo tôi, trừ những người cố tình xuyên tạc sự thực để bôi nhọ Việt Nam sau tháng 5-1975, có lẽ người ta đã hiểu nhầm việc đi lao động sản xuất tự túc là đi cải tạo chăng? Nếu quan niệm đi tham gia lao động sản xuất tự túc là đi cải tạo thì cả Đảng bộ và chính quyền Thừa Thiên Huế lúc ấy đều bị đi cải tạo cả. Thời ấy có ông bà thủ trưởng xuống tận người gác cửa cơ quan nào không đi lao động sản xuất sắn khoai để tự túc một phần lương thực đâu ? Đầu năm 1977, tôi vừa có con đầu lòng, phải đi Bình Điền sản xuất tự túc, chiều về ngồi trong trại nhớ con không cầm được nước mắt. Nhưng nào tôi có xin miễn được đâu ! Đi sản xuất rất vất vả, nhiều nữ giáo viên không biết đi xe đạp, phải nhờ chống “thồ đi thồ về”. Nếu chồng không ‘thồ” được thì phải đi bộ từ bốn năm giờ sáng. Chiều về phải tám chín giờ tối mới lết được đến nhà.

Chuyện bắt cả bộ máy nhà nước, sinh viên học sinh, giáo viên…bỏ việc chuyên môn, bỏ việc dạy và học đi phá rừng cuốc rẫy, đào lề đường để trồng khoai sắn sản xuất tự túc là một chủ trương sai lầm[5]. Bây giờ nhớ lại chuyện ấy không ai không chê trách. Nhưng nói chuyện đi sản xuất tự túc là đi lao động cải tạo là hoàn toàn xuyên tạc. Đối với anh em văn nghệ sĩ lúc ấy đi sản xuất tự túc như một cuộc đi chơi. Sắn khoai thu hoạch được không đủ bù vào tiền mua gạo, thức ăn mang theo và tiền mua xăng ô-tô đi sản xuất. Đó là chưa nói đến việc các văn nghệ sĩ không biết làm nông, mùa nắng gây cháy rừng, mùa mưa gây xói mòn sạt lỡ đất đai rất tai hại. Chính nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cùng với các nhà văn nhà thơ Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế (sau năm 1977 là Bình Trị Thiên) đã gây ra vụ cháy rừng thông trong khu vực lăng Minh Mạng. Nếu không nhờ dân và cán bộ đến dập tắt đám cháy kịp thời thì có thể tiêu luôn khu lăng Minh Mạng. May lúc đó xã hội chưa xem trọng di tích văn hoá nên báo chí cho là chuyện bình thường, không một tiếng phê bình. Do đó anh em văn nghệ xem chuyện cháy ấy như một kỷ niệm hồn nhiên của mình.

Sau nhiều lần đi sản xuất tự túc, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã khoe với Mai (tức ca sĩ Khánh Ly) trong một lá thư gởi sang Mỹ rằng: “Anh kể cho Mai nghe, bây giờ anh giỏi hơn Mai nhiều. Anh biết trồng khoai, trồng sắn và cấy lúa“. Có điều Trịnh Công Sơn không kể với Khánh Ly là lần đầu đi trồng sắn anh đã gặm cái đầu hom sắn xuống đất nên những cái hom ấy chết khô chứ không mọc được. Ôi còn biết bao chuyện buồn cười trong cái buổi đầu “xây dựng xã hội chủ nghĩa” ở cái đất Cố đô Huế ấy.

Mà lạ thật, cuộc sống thiếu thốn mọi bề, nhưng tôi thấy Trịnh Công Sơn rất vui. Vì ai cũng thiếu thốn cả chứ có như “kẻ ăn không hết người lần không ra” như bây giờ đâu ! Tôi còn giữ được mấy tấm ảnh Trịnh Công Sơn chụp hồi đầu năm 1976, trông anh khoẻ và đẹp lắm. Anh sống một mình ở gian nhà cũ 11/3 Nguyễn Trường Tộ, nhưng ít có hôm anh phải ngủ một mình. Không có Ngụy Ngữ thì có Trần Phá Nhạc, không có Tôn Thất Văn thì có Đinh Cường, không có Bửu Ý thì có Định Giang, không có Đặng Ngọc Vịnh thì có Lữ Quỳnh hay một anh chàng Hà Nội nào đó mến mộ Trịnh Công Sơn đi qua Huế ghé thăm anh chơi…Một số bạn mới ái mộ anh cũng thường đến ở với anh như Mạnh Đạt (nhạc sĩ), Vinh Nguyễn (nhà thơ)… Những người mới có gia đình như Hoàng Phủ Ngọc Tường, như tôi (NĐX) thì ít khi đến ngủ với anh, thay vào đó là chúng tôi hay mời anh về nhà ăn cơm. Đi ăn cơm khách nhưng Trịnh Công Sơn không thích ăn mà chỉ thích có một xị “quốc lũi” hay xị rượu trắng Phủ Cam cay cay là thích nhất. Những lúc anh em đi Hà Nội kiếm mua được một chai Vốt-ca của Liên-xô thì quý hoá vô cùng.

Quê hương chỉ là “Một cõi đi về”

Có thể nói trước ngày đất nước thống nhất hàng chục năm Trịnh Công Sơn đã là một nhạc sĩ rất nổi tiếng. Dù anh phải đi trốn lính, đi tham gia Phong trào tranh đấu hay núp dưới bóng mẹ ở nhà, bao giờ anh cũng được bạn bè và gia đình chăm sóc miếng cơm manh áo hết sức chu đáo. Sau tháng 5-1975, anh được mời về Huế tham gia công tác ở Hội Văn Nghệ, mừng gặp lại bạn bè cũ, mừng đất nước hoà bình thống nhất, vui thì có vui nhưng thật sự đó là một giai đoạn thử thách ghê gớm đối với đời sống của anh. Với lương tháng 64 đồng là cao so với cán bộ [6] nhưng đối với Trịnh Công Sơn, số tiền ấy không đủ để mua thuốc hút và mua rượu cho ba mươi ngày. Bởi thế mỗi tháng thân mẫu anh phải gởi thêm cho anh một chỉ vàng và một vài ký-lô thịt bò thưng [7] hay thịt chà-bông. Sau mỗi lần nhận quà của mẹ, nhà Trịnh Công Sơn liên tiếp có những “tiệc” rượu nhỏ. Tiệc cho đến hôm tiệt hết quà của mẹ gởi mới thôi. Người anh càng ngày càng gầy rộc đi. Bởi thế mỗi năm có đến mấy bận Trịnh Công Sơn phải xin phép vào Thành phố Hồ Chí Minh thăm mẹ. Nói đúng hơn là thăm mẹ để được mẹ bồi dưỡng lấy lại sức khoẻ.

Nhiều lần Trịnh Công Sơn vào ở nín trong Thành phố hàng mấy chục ngày, nhân đó anh tiếp xúc với bạn bè, văn nghệ sĩ của Thành phố. Anh gặp lại Phạm Trọng Cầu, Trần Long Ẩn, và quen thêm Hoàng Hiệp, Nguyễn Quang Sáng .v.v. Qua bạn bè, anh biết lãnh đạo của Thành phố cũng có người mến mộ anh. Biết hoàn cảnh của Trịnh Công Sơn ở Huế có nhiều “bất tiện”, vào ra xe cộ khó khăn, anh em gợi ý Trịnh Công Sơn nên xin chuyển công tác vào Thành phố Hồ Chí Minh, anh em sẽ giúp xin lãnh đạo Thành phố chấp nhận anh. Ý kiến đó phù hợp với sự mong muốn của gia đình Trịnh Công Sơn và có lẽ cũng “phù hợp” với ý muốn trả Trịnh Công Sơn lại cho miền Nam của một số người ở Bình Trị Thiên.

Vào giữa năm 1978, tôi không nhớ vào tháng nào, Trịnh Công Sơn về Huế làm hồ sơ chuyển công tác. Nghe tin đó chúng tôi hết sức tiếc, nhưng cũng nhận thấy như thế là hợp lý, Trịnh Công Sơn không thể kéo dài cuộc sống bấp bênh “ăn ít uống nhiều” ở gian nhà nhiều kỷ niệm trước nhà thờ Phủ Cam lâu hơn nữa. Và, thân mẫu của anh cũng không thể rút ruột kéo dài tình trạng phải gởi cho con trai làm công tác cách mạng ở Huế mỗi tháng một chỉ vàng mãi được. Lúc bấy giờ khan hiếm gạo nên quán hàng bán rượu cất từ sắn tươi. Nhiều khi người ta còn bỏ cả thuốc rầy vào rượu để tăng nồng độ của rượu. Tôi đã chứng kiến một vài lần Trịnh Công Sơn uống rượu sắn với Dương Toàn Thắng (em ruột của nhạc sĩ Mạnh Đạt) và ói mửa ra mật xanh mật vàng ngay tại chỗ. Không rõ có phải vì uống rượu độc hại mà sau đó không lâu Dương Toàn Thắng chết vì xơ gan cổ trướng không !

Trịnh Công Sơn vào Nam, giao gian nhà kỷ niệm ở đường Nguyễn Trường Tộ Huế lại cho vợ chồng anh chị Hoàng Phủ Ngọc Tường-Lâm Thị Mỹ Dạ. Không ngờ sau đó một năm (1979), anh chị Tường Dạ lại giao gian nhà đó lại cho vợ chồng tôi (theo đề nghị của nhà văn Thanh Tịnh) để chị Dạ đi Hà Nội học ở trường viết văn Nguyễn Du, anh Tường bồng bế các con vào tá túc trên mảnh đất của gia đình ở Cầu Sơn quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh[8]. Anh Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức cách mạng tiêu biểu, có quá trình tham gia kháng chiến của tỉnh Bình Trị Thiên mà cũng ra đi. Điều đó chứng tỏ lúc ấy có một cái dịch “chất xám của Bình Trị Thiên” chảy vào miền Nam. Trước và sau thời điểm Trịnh Công Sơn chuyển công tác (1978), nhóm thanh niên Quảng Nam công tác ở Thành đoàn Huế trước và sau ngày Giải phóng chuyển vào Đà Nẵng (Lê Công Cơ, Nguyễn Thanh Minh, Huỳnh Phước….), một số hoạ sĩ bỏ nhiệm sở vào Nam hành nghề tự do như Đinh Cường, Hồ Hoàng Đài, Tôn Thất Văn…một số cây bút năng động của Huế như Trần Phá Nhạc, Lữ Quỳnh, Tần Hoài Dạ Vũ (Nguyễn Văn Bổn)…cũng không ở được phải vào Nam. Vào đó thất nghiệp có người phải ra nằm ngoài bến xe Miền Đông để bán sách dạo, có người đạp xích-lô nuôi vợ con. Một số bác sĩ làm việc ở Bệnh viện Huế quen biết chúng tôi vào Biên Hoà tỉnh Đồng Nai. Một số cán bộ từ Hà Nội, Quảng Bình ở không nổi cũng xin đi (Trần Công Tấn, Lê Bá Sinh…). Nhiều người thấy bạn bè của tôi “nam tiến” cả, họ ngạc nhiên hỏi tôi: “Ủa, ông chưa đi à ?” Sự thật ở Huế tôi cũng xất bất xang bang chứ có được gì đâu, nhưng ngặt vì tôi là người nghiên cứu Huế bỏ Huế mà đi thì lấy gì mà nghiên cứu nên phải ở lại cho đến ngày nay. Nhắc lại vài dòng như thế để thấy việc nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trở lại miền Nam năm 1978 là một tất yếu. Không có cách nào khác hơn.”

Tôi trích dẫn hơi dài làm cho người đọc mất thì giờ, nhưng đây là vấn đề lịch sử nên dù vất vả tôi cũng phải cố gắng trình bày cặn kẽ (dù sức khỏe tôi rất kém), một là để Trịnh Cung có tài liệu soi lại những gì anh cho là sự thật, hai là để thỏa mãn bạn đọc gần xa muốn biết sự thật mà chỉ có những người bạn của Trịnh Công Sơn như chúng tôi mới biết được. Như vậy, tôi là người trong cuộc, hoạt động văn học nghệ thuật với NS TCS từ sau 30-4-1975 ở Huế, đã viết như thế, đã được Trung tâm nghiên cứu quốc học và Nxb văn Học xuất bản 7 năm rồi, sách ra đời, ngoài hàng ngàn độc giả đã đọc, sách đã gởi tặng gia đình các em NS TCS, tặng tất cả bạn bè NS TCS ở trong nước và ngoài nước, cho đến giờ nầy chưa hề nhận được lời phê nào bảo rằng tôi viết sai. Nếu thấy tôi viết không sai sự thật thì những gì Trịnh Cung viết ngược với tôi là sự thật hay sự giả tôi dành câu trả lời cho độc giả.

5. Trịnh Cung viết: Qua những “sự cố” như thế, có thể thấy TCS đã mắc những sai lầm với người CS như sau:
- Thiếu minh bạch trong suy nghĩ về chiến tranh VN và tính hai mặt trong quan hệ xã hội.
- Không ở trong một đường dây của tổ chức và chịu sự lãnh đạo của tổ chức đó.
- Không dám thoát ly đi theo MTGPMN.
Và những sai lầm của TCS với phía VNCH:
- Kêu gọi phản chiến nhưng chỉ nhằm vào phía VNCH.
- Thiên về phía người CSVN ngay cả sau khi bị họ giết hụt trong vụ Tết Mậu Thân ở Huế”.

NĐX bình luận: Suốt bài viết Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị của họa sĩ Trịnh Cung, tôi thấy mấy dòng trích nầy có phần nào đó đúng với thực chất hoàn cảnh của Trịnh Công Sơn trước tháng 4-1975. Nhưng tôi khác với Trịnh Cung ở chỗ đứng để nhìn vào cuộc đời của NS TCS. Trịnh Cung đứng ở chỗ người sĩ quan VNCH trung thành tận tụy với chế độ cũ, còn tôi đứng ở cái thế người cầm bút nghiên cứu tiểu sử NS TCS. NS TCS đã sống, đã sáng tác, đã viết, đã suy nghĩ như thế nào cố gắng phục hồi lại như thế chứ không kéo anh qua phía nầy hay đẩy anh qua bên kia.

► NS TCS “Thiếu minh bạch trong suy nghĩ về chiến tranh VN và tính hai mặt trong quan hệ xã hội.” NS TCS là một Phật tử, trong máu huyết của anh thấm nhuần giới “cấm sát sanh”. Anh chống chiến tranh, chống chuyện giết người, đau đớn trước mọi cái chết từ cả hai phía. Vì thế quan điểm phản chiến của anh bị cả hai phía lên án. Mà không những Trịnh Công Sơn, Phong trào Phật giáo miền Nam vận động cho hòa bình dân tộc từ năm 1964 đến 1975 cũng thế, và chính tôi, lúc chưa đi kháng chiến cũng thế. Và, nếu suy nghĩ cho kỹ, tất cả những ai yêu nước chống Mỹ mà không là cơ sở hoạt động cho MTGP đều như thế cả. Từ cái tư tưởng và quan hệ xã hội hai mặt đó mà về sau NS TCS vận động, cổ vũ cho tinh thần hoà hợp, hòa giải dân tộc như đã trình bày trên.

► NS TCS “Không ở trong một đường dây của tổ chức và chịu sự lãnh đạo của tổ chức đó”.

Đúng như thế. Thông tin nầy bác bỏ cái ý tưởng NS TCS có “tham vọng chính trị”, và “mối quan hệ có tính dính líu vào hoạt động chính trị phản chiến thân Cộng của TCS” mà Trịnh Cung muốn gán cho Trịnh Công Sơn. Và, nó cũng mâu thuẫn với thông tin Trịnh Cung dẫn chuyện Lê Khắc Cầm xác nhận Thư gởi Ngô Kha dẫn trên. Trịnh Cung ưng phán gì cứ phán, tiền hậu bất nhất, bất chấp sự thật, bất chấp trúng sai, bất chấp có mâu thuẫn với mình hay không. Một người suy nghĩ, nói năng, viết lách bá trúng bá phát như thế ai mà dám tin sự thật, sự giả của anh!

► NS TCS “Không dám thoát ly đi theo MTGPMN”.

Viết câu nầy chứng tỏ Trịnh Cung không hiểu gì về hoạt động của MTGP ở đô thị cả. Muôn thoát ly phải có tổ chức, có đường dây.Trịnh Cung vừa viết Trịnh Công Sơn “Không ở trong một đường dây của tổ chức và chịu sự lãnh đạo của tổ chức đó” thì ai mời Trịnh Công Sơn thoát ly mà Trịnh Công Sơn không dám? Ai dẫn Trịnh Công Sơn ra chiến khu ? Ai đã cho anh nguồn tin đó ? Hay anh trưng dẫn chuyện nầy để chê Trịnh Công Sơn hèn, không dám thoát ly chịu ác liệt gian khổ như bạn bè của Trịnh Công Sơn ? Xin Trịnh Cung cho biết nguồn tin chính xác. Nếu không anh mắc tội nói xấu người khuất mặt mà anh từng dựa dẫm.

► NS TCS “Kêu gọi phản chiến nhưng chỉ nhằm vào phía VNCH”

Chưa hẵn như thế. Nếu đúng như thế thì tại sao MTGP không trao Huân chương binh vận cho NS TCS mà ngược lại chinh quyền hiên nay vẫn chưa cho hát nhạc phản chiến cúa Trịnh Công Sơn ? Gia tài của mẹ nhắm vào ai ? Có phải là nhắm vào cuộc chiến không ?

► NS TCS “Thiên về phía người CSVN ngay cả sau khi bị họ giết hụt trong vụ Tết Mậu Thân ở Huế”.

Chuyện NS TCSThiên về phía người CSVN” thì quá rõ ràng. Thiên (procommunisme) CSVN, chứ Trịnh Công Sơn không phải là CSVN. Chuyện đó quá rõ ràng. Nhưng chuyện NS TCS “bị họ (MTGP) giết hụt trong vụ Tết Mậu Thân ở Huế” thì lần đàu tiên tôi nghe thông tin nầy. Ai cung cấp thông tin đó cho anh ?

Mấy chục năm qua người ta vu khống cho lực lượng giải phóng Huế giết chóc không đúng trong Tết Mậu thân 1968 không biết bao nhiêu chuyện rồi. Bây giờ anh có vu khống thêm năm ba chuyện nữa chắc cũng không có ai quan tâm. Nhưng đối vởi nhân thân của NS TCS – một nhạc sĩ lớn của dân tộc thì không thể xem thường. Nếu có anh có nguồn tin đáng tin cậy thì tôi sẽ đi điều tra xác minh, để ghi vào tiểu sử cúa NS TCS rằng ông “từng bị MTGP giết hụt hồi Tết Mậu thân 1968“. Nếu anh không trưng dẫn được nguòn tin chính xác thì anh sẽ phạm vào tôi vu cáo trước pháp luật.

Anh có suy nghĩ gì về hiện tượng NS TCS vẫnThiên về phía người CSVN ngay cả sau khi bị họ giết hụt” ? CSVN có gì hấp dẫn đến nỗi dù bị người của MTGP Huế giết hụt mà Trịnh Công Sơn vẫn cứ thiên về ? Vẫn không chịu chống, không chịu quay lui ? Hay NS TCS đã ý thức được, phân biệt được có ai đó đứng trong hàng ngũ MTGP Huế có chủ trương giết anh là việc nhỏ, còn lý tưởng đấu tranh đánh đuổi ngoại bang, giải phóng đất nước của CSVN là chuyện lớn không thể thay đổi được nên trong bất cứ hoàn cảnh nào anh vẫn phải thiên về ? Một người cạn nghĩ như anh, anh viết, anh nói bừa đến mức anh không hiểu ngay cả điều anh viêt, anh nói. Và, dĩ nhiên anh không thể nào tưởng tượng được những tác hại do anh gây ra cho người khác, cho chính bản thân, cho gia đình anh.

6. Trịnh Cung viết: Bước Ngoặt “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”. Sa Lầy vào Rượu và Xu Nịnh.Cuối tháng 5-1978, tôi ra khỏi trại cải tạo, gặp lại TCS. Lần nào đến nhà anh ở 47c Phạm Ngọc Thạch-Sài Gòn, sáng hay chiều, cũng thấy TCS ngồi nhậu rượu Ararat, một loại cô-nhắc Nga (sau “đổi mới” chuyển qua rượu chát đỏ của Pháp, và sau cùng là Whisky Chivas) với Nguyễn Quang Sáng và một số bạn “mới”. Tôi cảm thấy có một điều gì đó không ổn, hình như tôi, một thằng sĩ quan Nguỵ đi tù về, không còn được TCS và gia đình coi là người thân như ngày xưa. Thái độ khó chịu của tôi mỗi lần ngồi trước mặt những người bạn “mới” này của Sơn đã khiến tôi bị TCS và gia đình tẩy chay ngầm

Thực ra, tôi đã bị TCS và nhóm bạn Huế cũ loại ra từ những năm tháng tôi đi lính VNCH mà tôi không hề biết. Sau này, hoạ sĩ Tôn Thất Văn (đã chết) đã kể lại cho tôi rằng có những cuộc họp ở Huế vào những năm 60-70, TCS và những người mà tôi đã coi là bạn thân tình đã đem tôi ra để phê phán, tẩy chay vì tôi đã không trốn lính và đứng về phía Quốc Gia”.

NĐX bình luận: Đây là đoạn tự sự có giá trị nhất, thực nhất mà tôi tìm thấy trong bài viết Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị của họa sĩ Trịnh Cung. Lâu nay nghe Trịnh Cung nói và viết tôi cứ tưởng Trịnh Công Sơn và gia đình yêu về nết trọng về tài Trịnh Cung, té ra Trịnh Công Sơn và gia đình đã cạch anh không những từ sau ngày anh đi học tập về (khoảng 1978) mà cạch từ “những năm 60-70″. Nếu Trịnh Cung không thổ lộ, nếu Trịnh Cung không can đảm viết ra giữa ngày giỗ thứ 8 của NS TCS thì ông trời cũng bị lừa.

Trong bài viết Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị Trịnh Cung cho biết “…bài viết này tôi muốn bổ sung thêm những điều mà trong các cuộc nói chuyện về TCS ở Mỹ tôi đã không thể nói hết được” (tức buổi sinh hoạt tưởng niệm Trịnh Công Sơn tổ chức vào ngày 4-4-2001 tại phòng sinh hoạt Người Việt, Little Saigon, nam California). Cái mà bây giờ anh nói hết chính là đoạn tự sự nầy đây. Qua đoạn tự sự nầy ta thấy:

- NS TCS và gia đình anh bộc lộ tính cách Huế rất rõ nét: Cạch Trịnh Cung, nhưng cả nể không nói và cũng không có hành động gì làm phật lòng Trịnh Cung; không đóng cửa đối với Trịnh Cung ;

- NS TCS nổi tiếng dễ dãi, xuề xòa, không ngờ anh rất cảnh giác Trịnh Cung;

- Trịnh Cung tự tố cáo tất cả những bài nói, bài viết của Trịnh Cung về tình bạn thân thiết của NS TCS dành cho Trịnh Cung đều do Trịnh Cung bày đặt, tưởng tượng hoặc hiểu nhầm để đánh bóng mình; Trịnh Cung là người khách không mời mà tới của gia đình Trịnh Công Sơn;

- Biết mình bị tẩy chay mà Trịnh Cung vẫn lê la đến nhà Trịnh Công Sơn, ngồi chầu rìa. Cứ xem lại tấm ảnh lịch sử Trịnh Công Sơn -họa sĩ Đinh Cường tiếp nhạc sĩ Văn Cao sẽ thấy rõ cái sự chầu rìa của Trịnh Cung như thế nào;


Trịnh Cung chầu rìa cuộc vui của Trịnh Công Sơn, Đinh Cường và Văn Cao

- Phải chăng nỗi hận bị Trịnh Công Sơn, gia đình và bạn bè của Trịnh Công Sơn tẩy chay, Trịnh Cung đã phải giữ chặt dưới đáy lòng hòng duy trì cái tên Trịnh Cung bên cái giá tên NS TCS, để được nổi tiếng hơn, nay thấy mình đã “quá nổi tiếng rồi”, lấy “sự cao đạo làm tôn giáo” (như Trịnh Cung đã tuyên bố với báo chí), không cần cái giá đỡ của tên tuổi Trịnh Công Sơn nữa nên đạp cái giá đỡ để mình sừng sững nổi lên. Đồng thời trả thù gia đình NS TCS về cái tội đã ngầm tẩy chay Trịnh Cung suốt mấy chục năm qua. Động cơ viết bài Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị của Trịnh Cung chỉ vì chuyện nầy thôi. Các tác giả có chút phân tâm học phân tich tâm lý Trịnh Cung trong đoạn tự sự nầy chắc còn phát hiện thêm nhiều điều thú vị nữa.

7. Trịnh Cung viết: “Sau ngày 30-4-75, với cấp bậc Trung uý ngành Công binh VNCH, Đinh Cường trở lại Trường Mỹ Thuật Huế và được miễn đi học tập cải tạo nhờ vào việc đã tham gia các hoạt động đấu tranh chống VNCH của nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, TCS,.., nhiều năm trước.

Có một kỷ niệm đặc biệt với Đinh Cường mà tôi cũng muốn nói ra luôn sau bao nhiêu năm cố giữ chặt trong lòng, để lòng mình thôi nặng trĩu và cũng minh chứng cho một tình bạn không hề có thật mà anh ấy đã dành cho tôi, mà tôi đã hằng chục năm cố nghĩ khác đi, cố không tin. Sự việc xảy ra như thế này: Ngày 1-5-75, 8g sáng tôi đến nhà Đinh Cường ở đường Nguyễn Đình Chiểu cũ, gần chợ Tân Định để xem tình hình như thế nào. Như thường lệ tôi vẫn đến đây dễ dàng như người trong nhà nên rất tự nhiên bước lên cầu thang dẫn lên căn gác của bạn mình. Thế nhưng chị TN, vợ Đinh Cường đã chặn tôi lại ở giữa cầu thang và nói Đinh Cường đi khỏi rồi. Tôi không tin và nói lớn là có hẹn trước, lúc đó Đinh Cường mới nói vọng xuống để tôi lên. Khi lên tới nơi thì đã có mặt của Bác sĩ Trương Thìn, Nhạc sĩ Miên Đức Thắng cùng ngồi đó. Tôi gượng gạo ngồi xuống và Đinh Cường nói với 2 vị khách kia như hỏi ý: “Mình cấp cho TC cái giấy chứng nhận thuộc Thành Phần Thứ 3 nhé!” Lập tức tôi đứng lên và từ chối: “Không, hãy để tôi chịu trách nhiệm với họ, và Thành Phần Thứ 3, Thứ 4 gì họ cũng dẹp sạch thôi!”…

NĐX bình luận: Đọc đoạn trích Trịnh Cung viết về họa sĩ Đinh Cường, tôi thật sự bị sốc nên phải tắt internet, và tắt máy điện toán, gục đầu trên bàn phím. Tôi không thể ngờ Trịnh Cung lại có thể hạ bút viết những điều bịa đặt vu khống trắng trợn dành cho người bạn học, bạn nghệ thuật thân thiết của Trịnh Cung đến như thế. Khi cơn sốc giảm nhiệt, tôi lại đâm ra buồn bã khó tả. Tôi có thể mail hỏi Đinh Cường thực hư như thế nào mà Trịnh Cung viết tệ hại đến như vậy, nhưng tôi sợ Đinh Cường cười trách tôi “Ông là một là một nhà nghiên cứu, là bạn tôi, biết rõ nhân thân của tôi, ông không thấy được chuyện sai trái Trịnh Cung viết về tôi sao lại còn hỏi tôi?” Và, tôi cũng không dám điện thoại hỏi hai ông ban Trương Thìn (bạn học cùng lớp với tôi từ năm 1960) và Miên Đức Thắng (bạn hát nhạc tranh đấu năm 1966), sợ họ cười tôi: ” Trịnh Cung viết chuyện cách mạng như trò đùa vậy mà nhà nghiên cứu sử cũng quan tâm sao?”.

Tôi không dám hỏi ai cả. Vậy xin hỏi ai báo cho Trịnh Cung biết thông tin họa sĩ Đinh Cườngđã tham gia các hoạt động đấu tranh chống VNCH” cùng với NS TCS và chúng tôi ở Huế vậy? Chống lúc nào? Chống như thế nào? Hay họa sĩ Đinh Cường chỉ là bạn văn nghệ bình thường với chúng tôi giống như tình bạn chúng tôi với anh vậy thôi? Sau 30-4-1975, có nhiều sĩ quan VNCH biệt phái dạy trường Mỹ thuật Huế không đi học tập chứ đâu có riêng chi trường hợp họa sĩ Trung úy công binh biệt phái Đinh Cường! Hồ Hoàng Đài (Đại úy), Đỗ Kỳ Hoàng (Trung úy) Nguyễn Đức Nguyên (Trung úy)…không có ai tham gia tranh đấu với chúng tôi mà cũng có đi học tập đâu! Và ngược lại có biết bao người bạn tranh đấu của tôi tranh đấu chống VNCH thời Ngô Đình Diệm, thời Nguyễn Văn Thiệu Nguyễn Cao Kỳ như Ngô Trọng Anh (Bộ trưởng), Hoàng Văn Giàu (Asistant ĐH Huế), Bửu Tôn (Chủ tich HĐND Tranh thủ hòa bình), Hà Thúc Chữ (Đại úy tạo tác).v.v… mà cũng bị đi học tập chứ có được miễn đâu!

Phải chăng Trịnh Cung bịa đặt chuyện “Đinh Cường không bị đi học tập vì Đinh Cường có thành tích hoạt động cho MTGP. Vì Đinh Cường hoạt động cho MTGP nên chơi không thật với Trịnh Cung – một sĩ quan VNCH tận tụy với chinh quyền Sài Gòn”? Bịa chuyện với mục đích giải thích tình bạn của Đinh Cường dành cho Trịnh Cung là “một tình bạn không hề có thật”, có nghĩa là Đinh Cường cũng đã cạch Trịnh Cung như Trịnh Công Sơn từ lâu rồi. Nếu Trịnh Cung nghĩ như vậy là anh đã phạm vào cái tội phản bạn một cách thô bỉ nhất. Tôi có nhiều thông tin về tình cảm tuyệt vời của họa sĩ Đinh Cường dành cho anh. Tôi kể một chuyện mà chính tôi là người nhận thông tin nầy trực tiếp từ Đinh Cường:

Cuối tháng 3- 2001, trong lúc Đinh Cường và tôi “meo qua”, “meo lại” lo lắng về bệnh tình của NS TCS thì được tin Trịnh Cung bị ung thư tuyến tụy ở Cali. Mà ung thư tuyến tụy thì không ai sống được quá một năm. Đến hôm nhận được tin NS TCS đã giả từ cõi tạm thì cũng được tin bệnh cúa Trịnh Cung không chữa được, “Trịnh Cung tha thiết được về chết ở Việt Nam”. Đinh Cường rất hoảng hốt. Ba người bạn thân thiết nhất, một người đã chết, một người sắp chết. Không thể cưỡng lại được sự hối thúc của tình cảm, Đinh Cường đã mua vé máy bay giá cao, ngồi suốt 6 tiếng đồng hồ bay từ miền Đông sang miền Tây nước Mỹ để tìm mọi cách giúp đỡ Trịnh Cung, thăm và tiễn Trịnh Cung về chết ở quê hương. Gặp được Trịnh Cung lần cuối ở Cali, Đinh Cường rất mãn nguyện. Trong thời gian ấy, Đinh Cường, Bửu Ý và tôi liên lạc qua “meo” hằng ngày. Những cái “meo”ấy tôi vẫn còn giữ làm kỷ niệm. Tôi chưa bao giờ thấy bạn bè trong giới văn nghệ có một người bạn tốt với bạn như Đinh Cường. Thế mà bây giờ Trịnh Cung lại thổ lộ giữa anh và Đinh Cường là “một tình bạn không hề có thật”. Thế Trịnh Cung đòi hỏi Đinh Cường phải sống với anh như thế nào nữa mới có thật? Và Trịnh Cung đã sống thật với Đinh Cường như thế nào. Anh ác quá Trịnh Cung ơi!

Trong đoạn trích anh viết về Đinh Cường có chi tiết 8g ngày 1-5-1975 anh đến nhà Đinh Cường để xem “tình hình như thế nào” thì bị “chị TN, vợ Đinh Cường đã chặn tôi lại ở giữa cầu thang và nói Đinh Cường đi khỏi rồi”. Chi tiết nầy làm cho tôi nhớ lại: Hôm tối thứ bảy, 5-5-2007, Trịnh Cung và Trần Tiến Dũng đi Virginia và Washington về Boston, trong bữa cơm tại nhà anh chị NBC, có cả Tô Nhuận Vỹ, anh kể chuyện ghé thăm Đinh Cường ở Virginia, nhưng TN vợ Đinh Cường không chào anh. Anh trách Đinh Cường không biết dạy vợ. Tôi nói với anh ngay: “Nếu thế thì anh nên coi lại tư cách của anh, chứ theo tôi biết bạn của Đinh Cường đến ở lại nhà, không những chị TN nấu cơm ngon đãi bạn mà còn nhắc “Có thay quần áo nhớp thì đưa cho chị bỏ vào máy giặt luôn” kia mà!” Anh không bằng lòng ý kiến của tôi nhưng anh không cãi tôi được. Tôi không ngờ 32 năm trước (1975-2007), chị TN đã từng không muốn chồng chị chơi với anh, không muốn để anh bước vào nhà chị. Phải chăng vì sự “uất hận” đó mà nay nhân chuyện trả thù Trịnh Công Sơn, anh “nói ra luôn sau bao nhiêu năm cố giữ chặt trong lòng” để hạ Đinh Cường luôn! Thế hết rồi. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, hai người bạn thân thiết nhất của đời anh mà vì “lý tưởng VNCH” và sự thiếu nhân cách của anh, anh đã hạ bệ họ đến thế thì thử hỏi trên cõi đời nầy, trong những năm tháng ngắn ngủi còn lại của anh còn có ai dám gần anh, ai dám làm bạn với anh nữa ?

8. Trịnh Cung viết: “Với TCS, gia đình cùng các “đồng chí” rượu của anh, tôi lúc này là một kẻ xa lạ, một người lạc hướng, môt cái gai khó chịu, một con kỳ đà làm cho cuộc vui hoan lạc của họ không được hoàn hảo, tôi nên biến đi. Nhưng tôi lại là một gã ngoan cố, tự cho mình nhiệm vụ phải ngồi lại để làm Sơn tỉnh táo hơn, để những tiếng nói bớt đi những lời xu nịnh. Ý thức được rượu, phụ nữ và xu nịnh là một loại ma tuý tổng hợp đang nhấn chìm TCS được nguỵ danh dưới khẩu hiệu “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” nên tôi cố chiụ đựng sự khó chịu của họ và vẫn không tìm cách lấy lại chỗ đứng thân thiết vốn có với TCS thủa còn trai trẻ ở Huế bằng rượu chè, quà cáp đắt tiền và những tán tụng nuông chìu. Tôi vẫn đứng trên đôi chân liêm sỉ và theo đuổi một thứ nghệ thuật tri thức, đó là chỗ mà TCS, trong thâm sâu của tâm hồn anh, không thể loại bỏ tôi cho dù có khác nhau về quan điểm chính trị và cách sống. Đó cũng là điều mà TCS trong những lúc cô đơn nhất đã đến gõ cửa nhà tôi bất kể đêm khuya hay khi bình minh vừa ló dạng để hàn huyên hoặc khoe và hỏi ý kiến tôi về bức tranh mà anh vừa vẽ”.

NĐX bình luận: Những đoạn viết trước Trịnh Cung đứng trên lập trường của một sĩ quan chiến tranh chính trị cũ của quân đội VNCH. Chính vì cái lập trường “kiên định” lạc hậu ấy mà anh bị Trịnh Công Sơn và Đinh Cường xem thường anh và cạch anh. Đến đoạn viết nầy anh lại bất ngờ hiện hữu với Trịnh Công Sơn dưới cái lốt của một tín đồ đạo Khổng pha chế với Đạo Phật, “đứng trên đôi chân liêm sỉ và theo đuổi một thứ nghệ thuật tri thức” chống “rượu, phụ nữ và xu nịnh” đang làm hư hỏng Trịnh Công Sơn – “người bạn lớn” của anh (Báo Đẹp, 5-2001, tr.36). Anh bị Trịnh Công Sơn và gia đình cùng bạn bè của Trịnh Công Sơn xem là “một người lạc hướng, môt cái gai khó chịu”, nếu anh là một người có liêm sĩ thì không bao giờ anh còn lì lợm chường mặt tới nhà Trịnh Công Sơn nữa.

Trịnh Công Sơn xem anh như “một người lạc hướng, môt cái gai khó chịu “thì làm sao anh có thể cảnh tỉnh Trịnh Công Sơn được? Anh không cảnh tỉnh được ai mà anh cứ “ngoan cố” xuất hiện thì chỉ còn một mục đich là đến để theo dõi Trịnh Công Sơn, đến để phá đám, xâm phạm đến đời tư, đến cuộc sống gia đình Trịnh Công Sơn mà thôi. May mắn là gia đình Trịnh Công Sơn chưa một lần đẩy anh ra khỏi cửa để bảo vệ không khí yên bình của gia đình họ.

Anh than phiền Trịnh Công Sơn về rượu. Anh có uống rượu không? Các bạn Bửu Ý, Đặng Tiến, Hoàng Đăng Nhuận, Bửu Chỉ… có rượu không ? Cuộc đời nầy người ta lên án những bợm nhậu gây tan nát gia đình, làm mất tư cách trong xã hội, chứ không ai trách Lý Bạch (701-762) uống rượu và làm thơ, không ai lên án Rimbaud (1854-1891) với Verlaine (1844-1896) “hai chàng thi sĩ choáng hơi men“. Đọc văn, đọc thơ của Đái Đức Tuân Tchya, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng không ai chê các ông nầy là bạn của “nàng tiên nâu”.v.v. Tôi không uống rượu nhưng rất vui được mời rượu bạn bè, mời rượu Trịnh Công Sơn. Năm 1976, thiếu rượu, mà có rượu cũng không có tiền mua.

Mẹ tôi lúc ấy đã 65 tuổi, biết tôi có bạn là Trịnh Công Sơn “có rượu say ngà ngà rồi mới làm được nhạc hay”, nên nhân về Huế thăm vợ chồng tôi mới cưới bà làm một hủ rượu dâu đem về Huế tặng Trịnh Công Sơn. Hôm mời Sơn đến nhà tôi tại 20 Lý Thường Kiệt (Huế) tặng hủ rượu, mẹ tôi nói :”Ngồi xe đò chật cứng, hai tay bưng hủ rượu, may mà đem về được để tặng anh đây. Anh đem về uống rồi làm nhạc cho hay để bác nghe với !” Trịnh Công Sơn rất cảm động nhận hủ rượu của mẹ tôi. Sau đó mỗi lần gặp tôi anh luôn hỏi thăm sức khỏe mẹ tôi ở Đà Lạt và không quên nhắc đến hủ rượu dâu Đà Lạt rất ngon của mẹ tôi. Lúc nhỏ ở với mẹ, mỗi lần mẹ thấy tôi bưng ly rượu, hay kẹp điếu thuốc là bà gọi về đánh què tay. Vì thế mà đời tôi thiếu mất cái sảng khoái của rượu, của thuốc lá. Mẹ tôi là một bà già nhà quê mà biết làm rượu cho Trịnh Công Sơn uống để làm nhạc, Trịnh Cung là một họa sĩ, một người bạn thân thiết với Trịnh Công Sơn , đã có biết bao lần nhậu tuy lúy với Sơn, thế mà giờ đây thay vì mua rượu đem về Nghĩa trang Quảng Bình uống rượu bên mộ bạn nhân ngày giỗ thứ 8 của bạn, anh lại đi viết bài lên giọng đạo đức lên án chuyện rượu của Trịnh Công Sơn! Cái tâm của người nghệ sĩ của anh để dưới gót chân sao anh tàn nhẫn đến thế, Trịnh Cung?

Anh chê chuyện “gái” của Trịnh Công Sơn. Tôi buồn cười quá. Anh có “gái” không ? Cô vợ hiện nay của anh nhỏ hơn con gái của anh trên một chục tuổi là “gái” hay đàn ông ? Tôi đã từng viết một bài cám ơn những giai nhân đã đi qua đời Trịnh Công Sơn để cuộc đời có thêm những bài nhạc hay. Tất cả những giai nhân đi qua đời Trịnh Công Sơn họ đều lấy đó làm một kỷ niệm, một đóa hoa bất diệt của đời họ. Có ai kiện, ai tố cáo Trịnh Công Sơn say rượu làm hại đời họ đâu? Có một ca sĩ có giọng hát rất hay, giàu có, danh vọng, hạnh phúc gia đình, thế mà cách đây mấy năm cô đã tâm sự với tôi: “Em hát nhạc Trịnh em yêu anh ấy mười, nhưng em biết rõ hoàn cảnh của anh ấy, biết rõ những “thiếu thốn” của anh ấy, em yêu Trịnh đến trăm lần. Nhiều lúc em muốn ôm chầm lấy anh ấy, hôn anh ấy mà nói em yêu anh, em yêu anh trọn đời. Nhưng em sợ người ta nói em thấy sang bắt quàng nên thôi….Bây giờ nghĩ lại tiếc quá và thương anh ấy quá!”. Tôi không viết tên ca sĩ ấy. Khi đọc được mấy dòng nầy chắc chắn ca sĩ ấy sẽ xác nhận với anh và bạn đọc :”Chính tôi đã tâm sự với ông Xuân như thế!”

Còn chuyện gái của anh thì sao? Chắc anh còn nhớ hồi tháng 5-2007, vợ chồng Hồ Thành Đức-Bé Ký gặp anh ở triển lãm của Đinh Cường ở California như thế nào chứ ? Nếu anh quên tôi kể lại để anh nhớ:

Thứ 7, ngày 19-5-2007, tôi đến thăm vợ chồng Hồ Thành Đức-Bé Ký ở Quận Cam-Cali. Nghe tôi vừa sinh hoạt với Trịnh Cung ở Trung tâm William Joiner – Boston về, Bé Ký xối xả nói ngay: “Tôi mới gặp ông Trịnh Cung ở triển lãm Đinh Cường. Tôi hỏi: ông Trịnh Cung, vợ chết thì lấy vợ không ai chấp trách gì cả. Tại sao ông lại đi lấy một cháu bé nhỏ hơn con gái ông trên một chục tuổi thế? Sao ông nỡ làm hại con người ta như thế? – Ông Trịnh Cung không trả lời được. Sao các anh không ngăn ông ấy?”. Bị Bé Ký mắng, tôi hơi bẽ bàng. Biết thế, Hồ Thành Đức xoa dịu: “Chuyện không quan trọng gì cả. Đàn bà người ta nghĩ đến thân phận đàn bà mới nói thê thôi”. Tôi bào chữa cho Trịnh Cung: “Bà Bé Ký ơi, chuyện vợ chồng có số mạng cả. Ai mà biết được, ai mà ngăn ai được!” Sau đó Bé Ký luận về tương lai người vợ trẻ và đứa con nhỏ của Trịnh Cung. Đấy ! Chuyện gái của anh đấy!

Anh trách “chuyện gái” của Trịnh Công Sơn anh đã mâu thuẫn với chính anh, mâu thuẫn với những gì anh đã nói, anh đã viết. Trong bài “Trịnh Cung hồi sinh nhờ tình yêu“(Cập nhật: 25/09/2007 – 02:16 – Nguồn: vnExpress.net), có một phóng viên hỏi anh: “Ông bị ung thư tụy. Bác sĩ nói ông không còn sống được bao lâu nhưng đã 6 năm rồi, ông vẫn khoẻ. Điều gì đã hồi sinh nhà thơ, họa sĩ Trịnh Cung?”, anh đã đáp ” Với tôi, tình yêu là thứ siêu dược phẩm, siêu dược liệu. Nhạc sĩ có tình yêu càng nhiều thì sáng tác của họ càng thăng hoa, mà Trịnh Công Sơn, Phạm Duy là một ví dụ“[9]. Anh cũng khoe với báo chí anh đang “Tận hưởng hạnh phúc hết công suất!” với Phương Lan. Có phải đang “hết công suất với gái không ?”. Và, không cần phải trích dẫn chuyện cũ vài ba năm, ngay trong bài viết “Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị” nầy, anh cũng đã thấy sự thật: “Dần dà rồi TCS cũng tìm lại cho mình một phần phong độ sáng tác nhờ hấp thụ những ngọn lửa nhỏ từ những nhan sắc phụ nữ” .

Con người anh không có đạo đức mà anh giả đạo đức phê phán người khác nên gậy ông đã đập lưng ông. Điều anh phê phán Trịnh Công Sơn chính là điều người đời đang chê trách anh.

- Anh trách Trịnh Công Sơn thích “xu nịnh“. “Nịnh” là chất nhờn bôi trơn cuộc sống. Trong trường hợp của Trịnh Công Sơn, có lẽ nên dùng từ “khen” đúng hơn. Làm người ai không thích “nịnh”, ai không thích khen. (Anh có thích khen không ? chứ tôi thì thích lắm). Nghe lời xu nịnh để làm bậy thì đáng trách, chứ thích nịnh, thích khen là bản tính của con người. Trịnh Công Sơn là người nên anh ấy thích nịnh, thích khen có gì phải quan tâm? Chỉ khác nhau ở chỗ người tự trọng thì biết tiếp nhận lời khen đúng và từ chối, thẹn với lời khen không đúng, kẻ bần tiện thì nghe ai khen là hỉnh mũi tự đắc bất chấp đúng hay lố bịch. Người có tư cách vui mừng được nghe một lời khen người hay, kẻ bần tiện chỉ thích mình được khen và ganh tị với người khác được khen. Không rõ Trịnh Cung thuộc loại người nào (?). Anh có ganh tị với Trịnh Công Sơn không? Câu trả lời đã có sẵn trong câu hỏi.

Anh Trịnh Cung,

Thất sự tôi còn có thể vạch thêm nhiều sự độc ác, sai trái, đạo đức giả gài trong bài viết Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị của anh nữa, nhưng thiết nghĩ với một lá thư viết cho bạn trên 25 trang A4 của một ông già 73 tuổi như thế nầy xưa nay cũng đã hiếm rồi. Trước khi dừng bút tôi có mấy điều tâm sự với anh sau đây:

1. Anh tuyên bố “…bài viết này tôi muốn bổ sung thêm những điều mà trong các cuộc nói chuyện về TCS ở Mỹ tôi đã không thể nói hết được. Một nửa sự thật cũng chưa phải là sự thật.” Qua bài viết anh đã nói rõ cái sự thật đó là đã từ mấy chục năm qua Trịnh Công Sơn và gia đình đã cạch anh, chứ không phải anh được thân thiết với Trịnh Công Sơn như anh đã nói, đã viết từ trước cho đến ngày giỗ thư 8 của NS TCS;

2. Anh không cung cấp được điều gì mới “để làm rõ các mối quan hệ có tính dính líu vào hoạt động chính trị phản chiến thân Cộng của TCS” cho các lực lượng chống cộng ngoài những thông tin cóp nhặt quá bình thường;

3. Anh đã tháo được ra khỏi lòng mình mối hận đời đã xem thường anh, cái mối hận đã “quằn quại trong cái nhà tù ký ức làm” anh “đau buồn đến không chịu nỗi“; từ sau khi NS TCS mất. Tính đến nay anh đã ra tay hạ 3 người bạn mà anh đã bao lần cho là thân thiết nhất của anh;

4. Trước đây 8 năm anh đã thất bại khi hạ uy tín của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nay anh lại thất bại trong viêc hạ bệ uy tín NS TCS và họa sĩ Đinh Cường; ngược lại qua hành động “hạ nhục bạn” đó anh đã bộc lộ nguyên hình một sĩ quan chiến tranh chính trị cũ lừa thầy phản bạn của anh;

5. Qua sự bộc lộ trong bài viết của anh trên Web damau.org nhiều người cám ơn anh, nếu chưa có bài viết đó họ còn nhầm anh dài dài nữa. Những người từng được anh mê như L.Th, Nh.H., họ mừng may mắn đã không phải lòng anh;

6. Với nhận thức chính trị lạc hậu, với cái ngã quá lớn, với âm mưu đạp người khác xuống đất để mình cao hơn, anh không lường được hậu quả vô cùng xấu đối với sư nghiệp nghệ thuật và người chung quanh anh.

Những người bạn Huế yêu quý Trịnh Công Sơn họ nhiễm tính của Trịnh Công Sơn “thôi kệ” anh và không bao giờ họ nhắc đến tên anh nữa. Dù “thôi kệ” anh, nhưng trong lòng họ không thể “thôi kệ” với một thực thể: “Thà có kẻ thù đầy mưu trí, ít nguy bằng bạn quí ngu si” (Rien n’est si dangereux qu’ un ignorant ami; Mieux voudrait un sage ennemi.) (La Fontaine). Muốn khỏe cho tuổi già, tôi cũng có thể nhắm mắt “thôi kệ” anh. Nhưng dù sao, tôi không thể xóa hết những kỷ niệm quen nhau đúng nửa thế kỷ với anh, không thể xóa hết những hình ảnh mới rợi ở Hoa Kỳ hồi mùa hè năm 2007 với anh. Tôi không thể “một lần đạp c., một lần chặt chân”, tôi muốn được rửa chân. Nhưng nói chuyện phải trái với một người “lấy sự cao ngạo làm đạo đức” như anh đã nhiều lần vỗ ngực xưng tụng, thì quá khó! Năm mươi năm cầm bút, tôi đã bao lần bút chiến với ta, với địch, nhưng chưa bao giờ tôi thấy khó khăn như phải tranh luận với anh hôm nay. Khó không phải vì trí thức của anh, khó không phải vì sợ các thế lực nào đó đứng sau lưng anh mà khó vì anh đã từng là bạn tôi, khó vì phải vạch áo của bạn bè cho người xem lưng. Ôi !

“Hỡi Thượng-Đế! Hãy canh giữ giùm con những người bạn thân thiết, còn kẻ thù con đảm đương được” (Mon Dieu! gardez-moi de mes amis! Quand à mes ennemis, je m’en charge!) (Voltaire).

Dù anh vẫn trung kiên với cái mác sĩ quan chiến tranh chính trị cũ của anh, dù anh vẫn xem ngày 30-4-1975 là “ngày mất nước” (t/c Văn đã dẫn, tr.82), dù anh viết bài gởi đăng trên các trang Web ngoại quốc ghi nơi viết là Sàigòn chứ không phải là TP HCM, nhưng vì tôi đã thấy Hộ chiếu vào ra nước Mỹ của anh do nước CHXHCNVN cấp, chứ không phải hộ chiếu thời Nguyễn Văn Thiệu, thấy hộ khẩu của anh ở TP HCM, vẫn nhớ ngày 4-1-2001, trong cuộc tưởng niệm NS TCS tại Cali, anh xin phát biểu trước cả nhạc sĩ Phạm Duy để về chết ở quê hương Việt Nam nên tôi vẫn không xem anh là địch. Tôi chỉ đau khổ như câu kết của Voltaire dẫn trên mà thôi. Tôi không xem anh là địch nên nhờ hinh thức viết thư để giữ liên lạc, nói chuyện phải trái với anh, còn nước còn tát, may sao…

Nếu anh vẫn theo cái đạo “cao ngạo”, vẫn mang tâm cảnh của một sĩ quan chiến tranh chính trị của chế độ cũ, vẫn nhắm mắt trước điều hay lẽ phải của những người chưa dứt tình trao đổi với anh, thì tôi e rằng không một người có liêm sĩ nào, một người hát nhạc Trịnh Công Sơn nào còn treo tranh của anh trong nhà nữa, không một người sưu tập sách, sưu tập báo chí nào còn tâm trí giữ những trang có tên, có hình ảnh, có bài viết của anh trước ngọn lửa đỏ. Và tôi, khi ấy buộc lòng cũng phải bye ! bye ! anh.

Trịnh Cung ơi! Chưa muộn đâu! Hãy nắm lấy cơ hội.

Nguyễn Đắc Xuân

Lời khẩn: Vì bệnh gan mật không thường nên tôi tránh các cuộc trao đổi miệng và trên điện thoai. Rất mong được bạn đọc và họa sĩ Trịnh Cung phản hồi bài viết nầy qua e-mail: gactholoc@yahoo.com hoặc qua thư gởi về địa chỉ: 9/1B Nguyễn Công Trứ Huế. Tôi sẵn sàng hồi âm tất cả những thắc mắc cố liên quan đến bài viết. Kính chào. NĐX.

Chú Thích

[1]Tât cả nhừng câu, đoạn in nghiêng trong ngoặt kép đều trich từ bài viêt Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị của họa sĩ Trịnh Cung đăng trên trang Web damau.org ngày 1-4-2009.

[2] Trịnh Cung giải thích lý do vì sao anh không được đi Mỹ: “Sau 1975 tôi mới biết ông Nguyễn Văn Quyện, kiến trúc sư, Giám đốc Nha Mỹ Thuật Học Vụ, người ký quyết định không cho tôi đi Mỹ và trả tôi lại quân đội theo đề nghị của hoạ sĩ Vĩnh Phối – Hiệu trưởng Trường CĐMT Huế, cả 2 đều là Việt cộng nằm vùng)“,

[3] Giữa lúc chính quyền Sài Gòn đặt “cộng sản” ra ngoài vòng pháp luật, Thầy Nhất Hạnh viết : ” Kẻ thù ta đâu có phải là người, giết người đi thì ta ở với ai!”

[4] Có người đọc sách của tôi và cho tôi biêt người đó là họa sĩ Trịnh Cung

[5] Trong một cuộc họp tại Thành ủy Huế lúc ấy tôi đã phê phán chuyện nầy. Tôi cũng đã được một bài học: “Đảng viên phải nói theo Nghị quyết Nói không đúng với Nghi quyết sản xuất tự túc là khuyết điểm, phải kiểm điểm.” Tôi không kiểm điểm nhưng may mắn cũng không hề bị kỷ luật gì. Nhiều cán bộ công tác ở Văn phòng Thành ủy Huế lúc đó, ngày nay vẫn còn nhớ chuyện nầy.

[6] Lúc đó lương tháng của tôi chỉ có 58 Đồng

[7]Theo Vinh Nguyễn (người được TCS cho ở chung nhà ) cho biết thân mẫu của Trịnh Công Sơn có dặn rằng: “Mỗi lần ăn lấy ra hai cục bỏ trong chén và hấp khi cơm sôi. Khi ăn xé nhỏ và có muốn thêm gia vị thì tùy… “

[8] Ở Cầu Sơn được một năm , anh Tường cảm thấy Cầu Sơn rớt xuống cơn sầu nên đến tháng 6 năm 1980, lại dọn ra Huế, gia đình tôi chuyển về 16 Lý Thường Kiệt, gian nhà nhiều kỷ niệm của Trịnh Công Sơn lại giao lại cho anh chị Tường Dạ.

[9] Trong buổi sinh hoạt tưởng niệm Trịnh Công Sơn tổ chức vào ngày 4-4-2001 tại phòng sinh hoạt báo Người Việt, (Little Sàigòn, nam California), những người tổ chức ưu tiên cho Trịnh Cung phát biểu trước tiên, vì Trịnh Cung bị ung thư tuyến tụy, không thể chữa được, sắp lên tàu bay về Việt Nam để chết. Thông tin đó đã làm cho bạn bè ở Hoa Kỳ và ở TP HCM hết sức xúc động, đưa đón Trịnh Cung về nước tràn ngập tình cảm. Nhưng về đến TP HCM rồi không thấy Trịnh Cung đau ốm gì cả mà chỉ thấy Trịnh Cung đi nói chuyện, trả lời phỏng vấn, viết hết bài nầy đến bài kia về mối quan hệ của Trịnh Cung với người bạn lớn nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mà thôi. Dư luận đã đặt ra ba vấn đề: 1. Phải chăng ngành y khoa của Mỹ quá kém nên chẩn bệnh nói Trịnh Cung bị ung thư tuyến sai? 2. Trịnh Cung được y khoa Mỹ chẩn bệnh đúng nhưng bó tay không chữa được nên trả Trịnh Cung về VN, về VN Trịnh Cung đã tìm được thuốc thần qua mặt y khoa Mỹ và lành bệnh. (Chỉ tiếc là Trịnh Cung không tiết lộ thứ thuốc thần ấy để giúp cứu sống những người xấu số mắc phải cái bệnh tai ác ung thư tuyến tụy?) Những thắc mắc đó chưa có dịp hỏi Trịnh Cung thì may sao, phóng viên vnExpress.net (Cập nhật: 25/09/2007), đặt vấn đề với Trịnh Cung và được anh giải đáp: “tình yêu là thứ siêu dược phẩm, siêu dược liệu” đã chữa được cái bệnh hiểm nghèo ung thư tuyến tụy của anh. Không hiểu sao cho đến nay giới y khoa, nhất là y khoa của Mỹ, chưa đến hỏi anh cái “thứ siêu dược phẩm, siêu dược liệu” tình yêu đó ra sao. Đến bao giờ Trịnh Cung mới phổ biến thứ “thần dược” ấy ? Hay đây cũng là một trò bịp nhân sự ra đi của NS TCS, Trịnh Cung đi nói chuyện quảng cáo cho cái thương hiệu Trịnh Cung?

nguồn http://nhandanvietnam.org/view.php?storyid=824 NDVN, ngày 15/4/09

Những bài liên quan:

Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị (Trịnh Cung)

Trịnh Cung bỗng dưng lừng lẫy! (Lê Minh Quốc)

Thư gởi họa sĩ Trịnh Cung (Nguyễn Đắc Xuân)

09
Tháng 4
09

Hà Nội bị xếp hạng trong số các nước có nạn tham nhũng nặng nề nhất

Nội bị xếp hạng trong số các nước có nạn tham nhũng nặng nề nhất

Thanh Thủy,  Trọng Nghĩa

Bài đăng ngày 08/04/2009 Cập nhật lần cuối ngày  08/04/2009 16:02 TU

Cơ quan Tham Vấn Kinh Tế và Rủi Ro Chính Trị, PERC trụ sở tại Hồng Kông vào hôm nay, 08/04/2009 đã công bố bản xép hạng hàng năm về tình trạng tham nhũng tại 16 quốc gia và lãnh thổ vùng Châu Á Thái Bình Dương.

Trong bảng xếp hạng này, Việt Nam vẫn nằm trong diện các nước có tệ nạn tham nhũng nặng nề nhất.

Như mọi năm tổ chức PERC đã tham khảo ý kiến của 1700 người có quan hệ làm ăn buôn bán trong khu vực để lập ra bảng xếp hạng về mức độ tham nhũng tại 14 nước Á châu.

Bảng xếp hạng năm nay của PERC có một điểm mới lạ : trong danh sách có thêm hai nước, Úc và Hoa Kỳ để so sánh. Cũng như năm trước, Singapore và Hồng Kông vẫn được xem là hai nền kinh tế ít tham nhũng nhất và tiếp tục đứng đầu trong bảng xếp hạng theo thang điểm từ số 0 đến số 10. Quốc gia trong sạch nhất có điểm số 0.

Hai nước năm nay bị đánh giá là tham nhũng nhất là Indonesia và Thái Lan với số điểm 8,32 và 7,63.

Việt Nam đứng hàng thứ 12 trên 16 nước (14 nước châu Á, Hoa Kỳ và Úc). Tuy nhiên, điểm năm nay của Việt Nam có khá hơn so với hai năm trước : 7,11 năm 2009 so với 7,75 của năm ngoái và 7,54 của năm 2007.

Về trường hợp của Indonesia, nước bị xem là tham nhũng nhất trong khu vực với số điểm là 8,32, đứng cuối bảng, tổ chức PERC nhận thấy là nước này thật sự có ý muốn  chống tham nhũng từ khi tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono lên nắm quyền.

Riêng về Thái Lan, nước đứng áp chót, 15/16, với số điểm là 7,63, tổ chức PERC nhận thấy, yếu tố khiến cho các nhà đầu tư ngoại quốc quan tâm nhiều nhất là tình hình ổn định chính trị, hơn là tình trạng tham nhũng của một quốc gia.

Còn Philippin, vốn bị xếp hạng chót trong danh sách năm ngoái, lần này được nâng lên hàng thứ 11, trên Việt Nam một bậc. Trong khi đó Trung Quốc, đứng hàng thứ 8, được đánh giá là ít tham nhũng hơn Đài Loan.

(Theo RFA)

09
Tháng 4
09

Dự án bauxit Tây Nguyên: Làn sóng phản đối ngày càng mạnh.

Thanh Phương

Bài đăng ngày 07/04/2009. Cập nhật lần cuối ngày  08/04/2009 09:32 TU

Kể từ khi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng loan báo quyết định của chính phủ nhất quyết tiến hành dự án khai thác bauxit ở Tây Nguyên bất chấp những cảnh báo của các nhà khoa học về tác hại đối với môi trường và văn hóa ở vùng này, làn sóng phản đối dự án này ngày càng mạnh, nhất là vì nhiều người sợ rằng Trung Quốc trong tương lai sẽ kiểm soát vùng Tây Nguyên, đe doạ đến an ninh quốc phòng của Việt Nam.

rong một bài báo đăng trên mạng ngày 28/3, tờ Tuổi Trẻ khi tường thuật về buổi tọa đàm về các biện pháp kích cầu trong xây dựng đã trích lời ông Trần Ngọc Hùng – chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam - khẳng định các nhà thầu Việt Nam đang rất lo vì thực tế cho thấy các dự án lớn khi đem ra đấu thầu hầu như đều rơi vào tay các nhà thầu nước ngoài và nhất là các nhà thầu Trung Quốc đang thắng thầu rất nhiều công trình trọng điểm về điện, ximăng, hóa chất… Ông Hùng nói : “Đáng quan tâm là các nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất được“. Qua bài báo này, tờ Tuổi Trẻ tiết lộ là hàng chục ngàn công nhân Trung Quốc đã vào Việt Nam.

Trong số này có bao nhiêu công nhân Trung Quốc là việc cho dự án khai thác bauxit, hiện chưa có con số chính xác, nhưng có lẽ là rất đông, theo như quan sát của người dân địa phương tại Tây Nguyên. Một điều chắc chắn là các dự án khai thác bauxit ở Tây Nguyên đang được tiến hành rất khẩn trương.

Bằng chứng là gần đây hãng tin Dow Jones có loan tin là Tập đoàn Marubeni của Nhật vừa cho biết rằng họ và công ty China Aluminum International Engineering Co. (Trung Quốc), đã nhận được đơn đặt hàng để bán một nhà máy luyện nhôm sẽ được sử dụng ở Đắk Nông. Theo dự kiến, việc xây dựng nhà máy sẽ hoàn tất vào năm 2011 và khi vận hành sẽ đạt công suất 600,000 tấn alumima/năm.

Cũng hãng thông tấn Dow Jones cho biết, đây là đơn đặt hàng cho nhà máy luyện nhôm thứ nhì tại Việt Nam. Trước đây, đã có một hợp đồng được TKV (Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam) ký với Marubeni, trị giá 50 tỉ Yen (khoảng 52 triệu USD), để mua một nhà máy luyện nhôm đặt tại phía bắc Sài Gòn.

Trong một bản tin đăng ngày 6/3, tờ Sài Gòn Tiếp Thị cho biết, công ty Alumin Nhân Cơ, thuộc TKV đã hoàn tất việc san ủi 200 héc ta đất để chuẩn bị xây dựng một nhà máy luyện oxid nhôm tại xã Nhân Cơ, huyện Đắk Rlấp, tỉnh Đắk Nông. Theo tờ Sài Gòn Tiếp Thị, “các hạng mục phụ trợ khác như văn phòng, đường dẫn vào nhà máy…, đã hoàn thành“. Cũng theo Sài Gòn Tiếp Thị, “nhà máy luyện oxid nhôm vừa kể có công suất 600,000 tấn/năm và đại diện TKV, đại diện công ty Alumin Nhân Cơ đã lên đường sang Trung Quốc để ký hợp đồng xây dựng nhà máy với công ty cổ phần nhôm Trung Quốc (Challico). Nhà máy này theo dự kiến sẽ được khởi công xây dựng đầu quý 2 năm nay”.

Với dự án bauxit, diện tích rừng của Tây Nguyên sẽ bị thu hẹp.

Với dự án bauxit, diện tích rừng của Tây Nguyên sẽ bị thu hẹp.

Trước tình hình đó, ngày càng có nhiều nhà trí thức lên tiếng phản đối dự án bauxit Tây Nguyên vì tác hại kinh khủng của nó đến môi trường. Gần đây nhất, nhà báo Lê Phú Khải từ Sài Gòn, với tư cách một đảng viên, đã viết thư đề ngày 18/3 gởi cho tổng bí thư Nông Đức Mạnh, trong đó có đoạn viết rằng :

’Vấn đề bauxite còn nguy hại gấp trăm ngàn lần cải cách ruộng đất, vì nó hủy diệt cả dân tộc ta như các nhà khoa học đã dự báo.

Mười năm nữa sông Đồng Nai và những con sông khởi nguồn từ Tây Nguyên bị nhiễm bùn đỏ thì cả miền Trung, Đông Nam Bộ và TP.HCM lấy gì mà uống, những bà mẹ sẽ đẻ ra toàn quái thai. Vì sự tàn khốc đó mà Trung Quốc đã đóng cửa các mỏ bauxite của họ trên toàn quốc vào năm 2008.

Chính vì lẽ đó, với tư cách một công dân, một nhà báo lâu năm, tôi kiến nghị lên Ông Tổng Bí thư, người có trách nhiệm cao nhất của Đảng cầm quyền: Hãy đưa vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên ra bàn ở cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quốc hội và Nhà nước để dừng lại dự án này khi chưa quá muộn.’’

Nhưng chính là sự hiện diện đông đảo của người Trung Quốc ở Tây Nguyên đang gây lo ngại ngày càng nhiều về mặt an ninh quốc phòng. Trong một bức thư đề ngày 2/3 năm 2009 gởi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng ghi nhận là :

”Qua những vụ việc đất đai ở biên cương phía bắc, có thể dễ dàng nhận ra bài bản cướp đất của phương Bắc là: Lặng lẽ chiếm đất ở từng điểm nhỏ lẻ, rải rác, coi như đó chỉ là những vụ việc cục bộ, địa phương, nhà nước trung ương không hay biết! Nhà nước trung ương cứ cao giọng nói hữu hảo, cứ ban phát lời vàng hữu nghị nhưng cục bộ cứ lấn đất, chiếm đất, lặng lẽ mà chiếm, không gây ồn ào thành sự kiện quốc gia là được! Cả hệ thống truyền thông khổng lồ của ta cũng làm ngơ đồng lõa! ”

Từ đó, nhà văn Phạm Đình Trọng  càng đặt nghi vấn về quyết định của chính phủ cho phép Trung Quốc khai thác bauxít ở Tây Nguyên :

”Lạ quá, qui hoạch khai thác bô xít ở Tây Nguyên mới được Chính phủ phê duyệt, luận chứng kinh tế kĩ thuật đang soạn thảo, các nhà khoa học còn đang tranh luận nên hay không nên khai thác bô xít ở Tây Nguyên, thế mà công dân Trung Hoa, người cầm bản đồ, người mang cưa máy, người cuốc, người xẻng đã xục xạo ở Tây Nguyên!

Dư luận người dân Việt Nam đang lo ngại, đang xôn xao bàn tán về tính hiệu quả, về thảm hoạ môi trường khi khai thác bô xít Tây Nguyên và càng lo ngại hơn khi hàng ngàn trai tráng Trung Hoa sẽ có mặt đông đảo, trùng trùng đội ngũ ở Tây Nguyên, trung tâm bán đảo Đông Dương, khi đó ông Thủ tướng mới tuyên bố rằng khai thác bô xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước! Chủ trương lớn của đảng và nhà nước mà Quốc hội của dân chưa được bàn định thì người Trung Hoa đã xắn tay áo thực hiện chủ trương lớn của đảng và nhà nước ta rồi! Điều này làm cho người dân phải đặt câu hỏi: Chủ trương lớn khai thác bô xít Tây Nguyên có thực sự vì đất nước Việt Nam, có thực sự vì nhân dân Việt Nam ?”

Trước đó, thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh cũng đã viết thư khuyên can thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và cảnh báo rằng :

”Chúng ta đều biết Trung Quốc xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam, nói thẳng ra là không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là đe doa Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn. Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào ?!”

Tương lai của Tây Nguyên sẽ như thế này?

Tương lai của Tây Nguyên sẽ như thế này?

Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 6/4 vừa qua, nhà thơ Bùi Minh Quốc ở Đà Lạt cũng chia sẽ những mối lo âu nói trên.

RFI : Kính thưa ông Bùi Minh Quốc, là một người sống ở Đà Lạt, cách không xa các mỏ bauxit, ông có suy nghĩ như thế nào về dự án khai thác bauxit Tây Nguyên ?

Nhà thơ Bùi Minh Quốc : Từ lâu tôi đã để ý đến dự án khai thác bauxit Tây Nguyên, mà cụ thể là trên đất Lâm Đồng, tức là điạ bàn huyện Bảo Lộc, cách Đà Lạt hơn 120 km. Những người từ Bảo Lộc về cho biết là từ nhiều tháng qua, người dân tại đây đã xầm xì bàn tán về việc Trung Quốc vào khai thác bauxit ở Tây Nguyên. Dư luận lại càng bàn tán nhiều hơn kể từ khi có ý kiến của đại tướng Võ Nguyên Giáp gởi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, rồi đến thư của thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, rồi ý kiến của các nhà khoa học, nhà trí thức như tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, giáo sư Phạm Duy Hiễn hay nhà văn Nguyên Ngọc.

Dự án này tàn phá môi trường không chỉ của Tây Nguyên, mà còn của những vùng bên dưới nữa. Vì đây là thượng nguồn sông Đồng Nai, cho nên nó ảnh hưởng đến toàn bộ vùng Đông Nam bộ và Sài Gòn. Rừng bị phá, tức là văn hóa các dân tộc Tây Nguyên bị phá, vì như nhà văn Nguyên Ngọc có nói, văn hóa Tây Nguyên trước hết là văn hóa rừng.

Ý kiến của riêng tôi là dự án khai thác bauxit Tây Nguyên đã là một sai lầm, sai lầm này càng lớn hơn nữa vì đối tác được chọn lại là Trung Quốc, như tôi đã nhấn mạnh trong bài viết ”Chống diễn biến hòa bình của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc”

RFI : Xin ông giải thích rõ hơn về khái niệm này? Nguy cơ của dự án khai thác bauxit Tây Nguyên đối với an ninh quốc phòng của Việt Nam là như thế nào ?

Bùi Minh Quốc : Đây là hình thức diễn biến hòa bình thông qua quan hệ giữa hai đảng. Bauxit Tây Nguyên chính là bằng chứng cho thấy tính chất nguy hiểm đối với an ninh quốc gia, như thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã nêu lên. Ở phía Đông Bắc, Trung Quốc xây một căn cứ hải quân rất mạnh ở đảo Hải Nam. Căn cứ này không phải để nhằm chống một cuộc xâm lăng nào, mà là chính là để đe doạ Việt Nam.

Bây giờ, họ thông qua việc hợp tác khai thác bauxit để đưa người vào Tây Nguyên. Theo những tin tức từ địa phương mà tôi nắm được, tại khu Bảo Lâm, người  Trung Quốc đã vào đầy ở đó, đã xây nhà, xây cửa thành những khu vực riêng, đã tiến hành ủi đất khai thác. Đứng về mặt an ninh quốc phòng, thì từ Bảo Lâm đến Sài Gòn chỉ cách 180 km, mà theo đường chim bay thì còn ngắn hơn nữa. Những người Trung Quốc được đưa vào Tây Nguyên, nhìn bề ngoài là công nhân, nhưng bên trong họ là lính tráng thì sao ? Như  ông Nguyễn Trọng Vĩnh có nói, họ đưa súng ống vào đâu có gì là khó ?

Nói chung, đây là một vấn đề chính trị rất phức  tạp, rất nghiêm trọng, với nguy cơ mất nước đang hiện ra. Nước ta coi như đang bị một gọng kìm. Phía Đông Bắc là căn cứ hải quân, phía Tây Nguyên thì đang hình thành một địa bàn quân sự trá hình. Tôi hết sức lo lắng, nhất là vì cả đời tôi đã tham gia cứu quốc, nay lại thấy đất nước đùng trước một nguy cơ như thế, thì làm sao mà yên lòng được ?

Trao đổi với những bạn bè gần xa, tôi thấy ai cũng đều có tâm trạng như vậy, tức là hết sức lo lắng, bất bình và đều rất mong là những nhà lãnh đạo cho dừng ngay dự án này. Việc này theo lẽ phải được đưa ra cho toàn dân bàn, theo đúng chủ trương của Đảng là ”dân biết, dân bàn”. Hơn nữa, về mức số vốn đầu tư  thì đây là dự án lớn nhất từ trước đến nay ở Việt Nam, mà lại liên quan đến an ninh quốc phòng. Thế mà, người dân đã bị đặt trước việc đã rồi. Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, một người trong cuộc, thuộc Tập đoàn Than và Khoáng sản, một người biết rõ vấn đề từ rất lâu, đã nói thẳng ra rằng đây là một sai lầm cố ý của Tập đoàn Than Khoáng sản.

Có những dấu hiệu cho thấy là những người lãnh đạo cao nhất của đất nước này đang có một cái mắc míu, cái vướng víu gì đó, cho nên mới lệ thuộc vào Trung Quốc như thế, rồi cứ ngấm ngầm cho làm, bây giờ mới bùng ra là người Trung Quốc đã vào đầy ở Tây Nguyên rồi. Động thái của họ thật là khó hiểu.

RFI : Theo ông biết thì những ý kiến phản bác dự án bauxit nay còn được loan tải rộng rãi trên báo chí chính thức không?

Bùi Minh Quốc : Nói chung những ý kiến trên mặt báo chính thức là không phản ánh được tâm trạng của nhân dân và của đảng viên. Đảng đã có chủ trương ”dân biết, dân bàn”, nhưng biết và bàn ở đâu bây giờ ? Báo chí Việt Nam rõ ràng là không thể hiện được” dân biết, dân bàn”, nhất là đối với dự án khai thác bauxit Tây Nguyên này.

Theo tôi việc cần làm trước hết là phải thông tin cho nhau, đặc biệt là phổ biến thật rộng rãi những bức thư của tướng Giáp, tướng Vĩnh, tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, nhà văn Nguyên Ngọc, v.v… Những ý kiến ấy rất có cơ sở, rất có tính thuyết phục để phản bác chủ trương khai thác bauxit ở Tây Nguyên. Những ai chưa hiểu rõ vấn đề khi đọc qua những bức thư ấy thì sẽ hiểu rõ ngay. Từ đó, mọi người có thể cùng lên tiếng.

RFI:  Gần đây, Hoà thượng Thích Quảng Độ, lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam  thống nhất, có kêu gọi ”biểu tình tại gia” để phản đối dự án bauxit. Ông có ý kiến gì về lời kêu gọi này?

Bùi Minh Quốc: Tôi thấy ý kiến của Hòa thượng Thích Quảng Độ cũng rất hay, nhưng còn tính khả thi của nó đến đâu thì ta sẽ xem. Tôi nghĩ là bằng cách này hay cách khác, mỗi người tùy hoàn cảnh, vị trí của mình, nên bày tỏ thái độ cá nhân cũng như thái độ tập thể.

RFI: Xin cám ơn nhà thơ Bùi Minh Quốc.

(Theo RFA)

08
Tháng 4
09

Viết chân dung Trịnh Công Sơn hay để bôi nhọ nhân vật?

Viết chân dung Trịnh Công Sơn hay để bôi nhọ nhân vật?

07/04/2009 09:21 (GMT + 7)
(TuanVietNam)- Bài viết của hoạ sỹ Trịnh Cung đương nhiên không làm thay đổi bất cứ điều gì về con người và tác phẩm của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn. Bởi sự chứng minh có sức mạnh và ý nghĩa nhất của một nghệ sỹ chính là tác phẩm của con người nghệ sỹ đó.

Đúng vào dịp kỉ niệm 8 năm ngày mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1/4/2009), họa sỹ Trịnh Cung có bài viết “Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị”, đăng trên một website hải ngoại, với lý do để: “Giải thoát cho nó khỏi ngục tù trong tôi suốt hơn 30 năm qua”, dù cho  có “phải bị trả giá”.

Trong bài viết, họa sỹ Trịnh Cung nêu lên một số chi tiết, sự kiện và cảm xúc của riêng mình để cho rằng Trịnh Công Sơn có toan tính chính trị. Đặc biệt, những ngày trước 30/4/1975, họa sỹ này lý giải Trịnh Công Sơn từ chối ra đi vì sẽ “tham gia chính quyền được chuyển từ tay Nguyễn Văn Thiệu để thương lượng hoà bình với quân giải phóng đang bao vây Sài Gòn”.

Về giai đoạn sau 1975, hoạ sỹ Trịnh Cung dẫn một số câu chuyện để đưa đến nhận định rằng: “Ý thức được rượu, phụ nữ và xu nịnh là một loại ma tuý tổng hợp đang nhấn chìm Trịnh Công Sơn được nguỵ danh dưới khẩu hiệu “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”.

Bài viết này đã nhận sự phản đối ghê gớm từ phía văn nghệ sĩ, độc giả trong và ngoài nước. Trên tờ Thanh Niên, nhà thơ Lê Minh Quốc cho rằng bài viết này của Trịnh Cung là “ngậm máu phun người”. Nhà thơ Lê Minh Quốc coi đây là “một trong những thủ pháp nhằm PR cho tên tuổi” của Trịnh Cung.

Sau đó, rất nhiều nghệ sĩ đã lên tiếng chính thức phản đối bài viết xúc phạm Trịnh Công Sơn của họa sỹ Trịnh Cung nói trên như: nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, đạo diễn Lê Cung Bắc, họa sĩ Trịnh Thanh Tùng, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, nhà thơ Nguyễn Thái Dương, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, nhạc sĩ Thế Hiển, ca sĩ Ánh Tuyết, nhạc sĩ Lê Quốc Thắng…

Bài viết của hoạ sỹ Trịnh Cung về nhạc sỹ Trịnh Công Sơn trên một trang web nước ngoài đang gây lên phản ứng dữ dội của những người yêu nhạc Trịnh, của các văn nghệ sỹ và trí thức Việt Nam. Mỗi người có một cách phản ứng khác nhau, nhưng đều tập trung vào ba điều cơ bản:

Một: Khẳng định tài năng và nhân cách của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn;

Hai: Khẳng định những sự kiện trong bài viết mà hoạ sỹ Trịnh Cung đưa ra để chứng minh luận điểm của ông là hoàn toàn sai sự thật;

Ba: Khẳng định một nhân cách kém cỏi của hoạ sỹ Trịnh Cung và mục đích không trong sáng trong bài viết của ông về nhạc sỹ Trịnh Công Sơn.

Với tôi, bài viết của Trịnh Cung về nhạc sỹ Trịnh Công Sơn có thể coi là thể loại chân dung. Và tôi muốn nói đến nhân cách của những người viết chân dung ở Việt Nam trong những năm gần đây mà cụ thể là nhân cách viết chân dung của hoạ sỹ Trịnh Cung.

Viết về người đã khuất phải thận trọng và có lương tâm

Trịnh Công Sơn cùng các họa sĩ Đinh Cường, Trịnh Cung và nhạc sĩ Văn Cao (năm 1987)

Quả thực, nhân cách của hoạ sỹ Trịnh Cung lâu nay đã được các văn nghệ sỹ bàn đến khi có những liên quan. Không ít văn nghệ sỹ đã cảnh báo những ai đó hãy cẩn trọng khi có quan hệ với hoạ sỹ Trịnh Cung.

Họ sợ sự phản bội bạn bè mà hoạ sỹ Trịnh Cung đã từng làm với những đồng nghiệp của ông. Nhưng chưa một ai viết về những chuyện đó và đưa lên báo chí cả.

Cho dù thái độ cá nhân của họ như thế nào với Trịnh Cung nhưng khi viết về một con người đặc biệt là con người đó đã mất thì càng phải thận trọng và có lương tâm.

Chỉ khi hoạ sỹ Trịnh Cung công khai viết về một người mà ông vẫn thường tuyên bố rằng đó là một người tri âm tri kỷ của mình là nhạc sỹ Trịnh Công Sơn thì dư luận mới lên tiếng.

Trước đó, trong không ít bài viết của hoạ sỹ Trịnh Cung liên quan đến những văn nghệ sỹ khác, người ta luôn luôn thấy ở đó một thái độ hằn học.

Mới đây, với những gì mà hoạ sỹ Trịnh Cung đã trả lời phỏng vấn trên Báo VietNamNet cũng đã gây ra những phản ứng gay gắt của các văn nghệ sỹ nhất là các văn nghệ sỹ ở TP.HCM.

Họ cho rằng: hoạ sỹ Trịnh Cung không đủ tư cách để dạy người khác phải ứng xử với nhau có văn hoá như thế nào. Vì ông ấy đã ứng xử một cách phi văn hoá với bạn bè lâu nay.

Nhưng trong bài viết của mình, tôi không bàn sâu đến chuyện đó. Bởi nếu tôi kể ra những câu chuyện tôi nghe được về Trịnh Cung hay phỏng vấn những người đã từng chứng kiến nhân cách của hoạ sỹ này thì bài viết của tôi sẽ gây cho bạn đọc một cảm giác tôi đang không công bằng với ông. Tôi chỉ đề cập đến những gì ông viết trong bài về nhạc sỹ Trịnh Công Sơn.

Trong bài viết của mình, hoạ sỹ Trịnh Cung dựng chân dung nhạc sỹ Trịnh Công Sơn là một kẻ tham vọng làm quan cả trong thời gian trước và sau năm 1975. Nhưng vì không được tin dùng nên nhạc sỹ Trịnh Công Sơn đã chán chường và buông xuôi.

Cách nhìn nhận này của hoạ sỹ Trịnh Cung về nhạc sỹ Trịnh Công Sơn đã xuyên suốt cả bài viết dài của ông. Đây là một nhận định sai lạc, thiếu tính khoa học và không lương thiện. Với một kẻ luôn luôn kiếm tìm cơ hội để đạt được những dục vọng của mình thì kẻ đó không thể nào có được một tâm hồn lớn như tâm hồn nhạc sỹ Trịnh Công Sơn.
Tất cả những tác phẩm âm nhạc mà nhạc sỹ Trịnh Công Sơn để lại đã chứng minh một cách uy quyền nhất tâm hồn ông, nỗi đau nhân thế của ông và khát vọng lớn lao của nhân loại về hoà bình ở trong ông.

Ông là một nghệ sỹ chân chính bởi những gì ông sáng tạo từ buổi đầu tiên cho tới khi giã biệt thế gian không bao giờ xu nịnh và thoả hiệp với bất cứ ai, mà ở đó chỉ vang lên giọng nói của những khát vọng chân chính và tình yêu nhân loại.

Chúng ta đều biết rằng: ngay lúc này, có hàng triệu thanh niên Việt Nam mê đắm nhạc Trịnh. Họ không biết gì về quá khứ của con người Trịnh Công Sơn. Họ chỉ biết những tác phẩm ông để lại đã đánh thức những vẻ đẹp và tình yêu thương trong họ.

Tất nhiên, cũng có những kẻ sống đầy cơ hội đớn hèn và đầy dục vọng cũng đã làm ra được một tác phẩm nào đó có cảm xúc. Việc này không có gì lạ. Tôi sẽ quay lại bàn về sự mâu thuẫn kỳ lạ giữa nghệ sỹ và tác phẩm của họ vào một dịp khác.

Với một vài “điểm đen” trong cuộc đời Trịnh Công Sơn như Trịnh Cung viết, cho dù có thật đi nữa cũng không hề làm lu mờ một chút nào tài năng và nhân cách của Trịnh Công Sơn. Nhưng tại sao Trịnh Cung lại dày vò ghê gớm đến như thế mấy chục năm để cuối cùng nói ra với một thái độ không phải là chia sẻ, không phải là thương xót và không phải là sự cảm thông, mà là một thái độ không lương thiện?

Viết chân dung để dựng lên số phận nhân loại

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Viết chân dung một nghệ sỹ là thông qua con người nghệ sỹ đó dựng lên số phận nhân loại cùng với những buồn vui và những giấc mơ của nhân loại trong thời đại mà nghệ sỹ đó sống và sáng tạo. Nhưng không ít văn nghệ sỹ Việt Nam đang viết chân dung hay hồi ký hay tự truyện là nhằm bôi nhọ hay bóp méo nhân vật và dựng một nhân vật khác là chính người viết nên.

Một câu nói tục nếu có vào một lúc nào đó của Trịnh Công Sơn đâu phải là một “tư liệu” cần mang đến cho bạn đọc. Một khoảnh khắc lưỡng lự của tư tưởng nếu có trong một lúc nào đó của Trịnh Công Sơn có phải là một sự kiện quan trọng trong đời sống và sự nghiệp sáng tạo lớn lao của Trịnh Công Sơn không?

Nếu viết chân dung là đưa tất cả thượng vàng hạ cám ra thì sau này ai đó viết về Trịnh Cung mọi chuyện sẽ như thế nào? Viết chân dung, kể cả viết chân dung một người mà ta không hề yêu quí hay không cùng chí hướng, thì cũng không phải là để lăng mạ người đó để thoả mãn dục vọng thấp hèn của mình mà nhằm lý giải con người đó như lý giải cái thế giới người phức tạp này.

Khi trả lời một tờ báo nước ngoài, Trịnh Cung nói đại ý để “chúng ta vẽ lại một chân dung trung thực hơn” về Trịnh Công Sơn. Chẳng lẽ mấy câu chuyện mà Trịnh Cung đã viết ra trong bài báo của ông mới là những điều làm nên tài năng và nhân cách Trịnh Công Sơn sao?

Trong khi đó, rất nhiều người còn sống đầy tên tuổi và có lương tâm mấy ngày nay đã lên tiếng về sự bịa đặt của ông ở những câu chuyện đó.

Cứ cho rằng những điều Trịnh Cung viết trong bài viết của mình có phần đúng thì mục đích kể ra những chuyện ấy không phải là một mục đích trong sáng, nhất là khi Trịnh Cung đã từng xin HỌ của Trịnh Công Sơn. Đấy mới là vấn đề văn hoá của con người Việt Nam.

Tôi không nói hoạ sỹ Trịnh Cung là người phản bội. Nhưng hành động đó của ông cho thấy những giá trị văn hoá Việt đang bị phá vỡ một cách ghê gớm ngay trong một tầng lớp được coi là tinh hoa của xã hội.

Qua bài chân dung thấy nhân cách của người viết

Hoạ sĩ Trịnh Cung

Chúng ta đều biết rằng khi đọc không ít chân dung văn nghệ sỹ Việt Nam còn sống hay đã mất được những người khác viết lại thì sẽ thấy nhân cách của những người viết.

Họ vẫn nói đến những bi đát, những lầm lạc của nhân vật nhưng vẫn làm người đọc xúc động và suy ngẫm. Bởi những chân dung đó chỉ nhằm dựng nên số phận hay bi kịch của con người phải đi qua chứ không nhằm bôi nhọ nhân cách của nhân vật.

Hai vấn đề này hoàn toàn khác nhau. Nó sẽ ở bên này hay ở bên kia chỉ phụ thuộc vào lương tâm và trí tuệ của người viết.

Một nhà văn trong những năm đói khát, đau thương, chiến tranh của cả dân tộc gặp một bữa ăn ngon đã ăn như một người không được ăn 1000 năm. Nhưng trong mắt người kể lại chuyện đó (viết chân dung) sẽ có thể rơi vào một trong hai tình trạng sau:

Một, việc ăn bữa ăn của nhân vật đó trở thành bi kịch trong những năm đói khát và chết chóc của nhân loại.

Hai, việc ăn của nhân vật đó trở thành sự nhếch nhác và thô lỗ của con người nhà văn kia. Hình ảnh của nhà văn trong cơn đói kia sẽ trở thành một trong hai tình trạng nói trên là hoàn toàn phụ thuộc vào nhân cách và tài năng của người viết chân dung. Tất nhiên qua hình ảnh nào đó của nhân vật được viết, tác giả cũng có thể nói về sự suy đồi của con người.

Hoạ sỹ Trịnh Cung nói “Sơn dễ bị những người có quyền lực, giàu có chinh phục anh”. Trịnh Cung không được phép nói như vậy cho dù ông có quyền phát biểu những gì ông nghĩ. Nhưng ông mang danh một trí thức, mang danh một người thân của Trịnh Công Sơn và gia đình nhạc sỹ.

Cả hai cái “danh nghĩa” này bắt buộc ông phải suy nghĩ thật chín chắn, có trách nhiệm với hậu thế và không cho phép ông phát biểu hồ đồ như thế.

Những phát biểu miệng hay bài viết của ông về Trịnh Công Sơn thiếu tính khoa học. Ông Võ Văn Kiệt yêu quí Trịnh Công Sơn là một nét đẹp của một chính trị gia đối với một nghệ sỹ lớn.

Nhạc sỹ Trịnh Công Sơn quý trọng ông Võ Văn Kiệt là thái độ văn hoá của một nghệ sỹ với một chính khách hiểu biết văn hoá nghệ thuật và tôn trọng người làm ra nó. Tôi cho đó là một quan hệ đẹp và cần thiết ở mọi quốc gia. Hãy công bằng với mối quan hệ đó.
Hiện thực cho thấy một số văn nghệ sỹ luôn tìm cách xuyên tạc những mối quan hệ như thế.

Một nghệ sỹ kể lại cho tôi nghe ông Nguyễn Khoa Điềm khi còn làm Trưởng ban Tư tưởng Văn hoá đã gặp gỡ nhà văn Phạm Thị Hoài. Theo tôi cuộc gặp gỡ đó là để tăng sự hiểu biết và tìm một tiếng nói chung cho dù cuộc gặp đó theo dự đoán của tôi là cuộc gặp mang tính cá nhân.

Sự tiến bộ và văn minh đích thực của nhân loại theo tôi là con đường tiến tới sự gặp gỡ trong một mục đích chung giữa một chính thể với các lực lượng xã hội và đặc biệt là trí thức.

Bởi thế, kể ra quan hệ của ông Võ Văn Kiệt và nhạc sỹ Trịnh Công Sơn và với lời phát biểu ở trên cho thấy hoạ sỹ Trịnh Cung đã gián tiếp “quy chụp” Trịnh Công Sơn cả về nhân cách lẫn chính trị.

Đấy cũng là một trong những điểm tồi tệ nhất trong không ít các bài viết chân dung, trong một số cuốn hồi ký hay tự truyện xuất hiện trong những năm gần đây ở Việt Nam.

Bài viết của hoạ sỹ Trịnh Cung đương nhiên không làm thay đổi bất cứ điều gì về con người và tác phẩm của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn. Bởi sự chứng minh có sức mạnh và ý nghĩa nhất của một nghệ sỹ chính là tác phẩm của con người nghệ sỹ đó.

Trịnh Công Sơn đã để lại một gia sản tinh thần lớn cho người Việt Nam. Tôi chỉ bắt đầu biết nhạc Trịnh Công Sơn từ năm 1980, khi mà có những người đã rỉ tai tôi nói rằng đó là những nhạc phẩm phản động. Nhân loại vĩ đại nhưng cũng thường có những lúc ấu trĩ như thế. Nhưng những ấu trĩ như vậy lại sẽ qua đi và những gì thực sự là vẻ đẹp và nhân văn mãi mãi còn lại.

Cho đến bây giờ, tôi chưa một lần nhìn thấy mặt Trịnh Công Sơn và cũng chẳng biết lý lịch của ông như thế nào. Nhưng bản lý lịch chính xác nhất của một nghệ sỹ chính là tác phẩm của họ. Và Trịnh Công Sơn mang một bản lý lịch của tâm hồn và những giấc mơ về một thế giới hoà bình và tràn ngập yêu thương của chúng ta.

  • Vương Thảo

BÀI LIÊN QUAN:

Trịnh Cung, TRỊNH CÔNG SƠN là Cộng Sản

Tưởng nhớ 8 năm ngày mất cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn

07
Tháng 4
09

Trịnh Cung, TRỊNH CÔNG SƠN là Cộng Sản

* Trịnh Cung, TRỊNH CÔNG SƠN là Cộng Sản

Nhân ngày kỷ niệm TCS, 1/4, TC đăng 1 bài trên 1 web, về TCS với 1 ý, hạ bệ TCS bằng cách nói TCS theo MTGP, và CS từ lâu

Tuy nhiên, trong bài nầy, TC để lộ lòng hận TCS vì TCS và gia đình & bạn bè TCS vì 1 lý do: họ tẩy chay TC vì TC tố cáo TCS để lập công với CSVN

” TRỊNH CÔNG SƠN VÀ THAM VỌNG CHÍNH TRỊ

Không quan tâm đến chính trị?

Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách “Như Những Dòng Sông” của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (Trích bài viết: “Về Trịnh Công Sơn và Những Ca Khúc Phản Chiến Của Anh”, in trong “Trịnh Công Sơn, Cuộc Đời, Âm Nhạc, Thơ, Hội Hoạ & Suy Tưởng” do Nhà Xuất Bản Văn Hoá Sài Gòn ấn hành năm 2005)?


Sự thực có đúng như câu khẳng định chắc nịch ở trên của ông Hoàng Tá Thích và hoạ sĩ quá cố Bửu Chỉ? Chắc chắn là sai 100% rồi nếu như Trịnh Công Sơn không là tác giả của 3 tập nhạc phản chiến (Ca Khúc Da Vàng, Kinh Việt Nam và Ta Phải Thấy Mặt Trời), và cũng chưa từng tham gia vào Phong trào Đấu tranh Đô thị của Thanh niên Sinh viên Học sinh để chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn mà chính cuốn sách của Hoàng Tá Thích và bài viết của Bửu Chỉ vừa nhắc đến ở trên đã có nhiều tiết lộ. Mặt khác, trong bài viết “Có Nghe Ra Điều Gì” Trịnh Công Sơn gửi cho bác sĩ Thân Trọng Minh tức nhà văn Lữ Kiều năm 1973 có đoạn như sau: “…Chưa bao giờ tôi có ý nghĩ tự đề nghị với mình một trách nhiệm quá lớn, nhưng khi đã lỡ nhận chịu những cảm tình nồng hậu từ đám đông, thì những tình cảm kia phải được đền bồi…”. Và trong thư TCS gửi cho Ngô Kha – người bạn cùng chí hướng chính trị và cũng là người em rể, đồng thời là lãnh tụ của Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức này đã bị Công An Huế bắt (1972-1974) – chúng ta sẽ dễ nhận ra ý thức làm chính trị chống chế độ Sài Gòn của Trịnh Công Sơn. Nhất là trong đoạn Lê Khắc Cầm nói về mối quan hệ giữa TCS và tổ chức cơ sở thành uỷ Huế do Lê Khắc Cầm bí mật phụ trách trước 1975 như thế nào, thì không thể nói là TCS không có toan tính chính trị như nhận định của hoạ sĩ Bửu Chỉ (Xin xem thêm Thư TCS gửi Ngô Kha và đoạn trao đổi về lá thư này giữa Nguyễn Đắc Xuân và Lê Khắc Cầm trong phần tư liệu đính kèm bài).

Trước khi nêu thêm những dẫn cứ quan trọng hơn để chúng ta có cái nhìn rõ hơn về thái độ chính trị của TCS thời chiến tranh VN, và cũng nhằm cung cấp thêm tư liệu để làm rõ các mối quan hệ có tính dính líu vào hoạt động chính trị phản chiến thân Cộng của TCS, tác giả xin kể một kỷ niệm với Ngô Kha và vì sao Ngô Kha lấy tên cho lực lượng đấu tranh của mình là Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức.

Vào năm 1971, tôi có mời Ngô Kha tới dự bữa cơm đầy năm Vương Hương, con đầu lòng của tôi tại nhà ở Phú Nhuận. Sau tàn tiệc, tôi đưa Ngô Kha ra về. Chúng tôi đi bô từ ngã tư Phú Nhuận về hướng cầu Kiệu, khi gần đến chân cầu, Ngô Kha nói với tôi: “Cậu vào chiến khu với mình đi, có người dẫn đường đang chờ”. Tôi không ngờ lại bị Ngô Kha đưa vào thế kẹt. Lúc này, tôi đang là Trung Úy biệt phái dạy tại Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, vừa bị Nha Mỹ Thuật Học Vụ trả về lại Bộ Quốc Phòng vì được Mỹ cấp học bổng tu nghiệp mỹ thuật tại Trung Tâm Đông và Tây, Hawaii, Hoa Kỳ (Sau 1975 tôi mới biết ông Nguyễn Văn Quyện, kiến trúc sư, Giám đốc Nha Mỹ Thuật Học Vụ, người ký quyết định không cho tôi đi Mỹ và trả tôi lại quân đội theo đề nghị của hoạ sĩ Vĩnh Phối – Hiệu trưởng Trường CĐMT Huế, cả 2 đều là Việt cộng nằm vùng), và Ngô Kha đang là em rể của Trịnh Công Sơn, cũng mang cấp bậc thiếu uý Quân lực VNCH có tư tưởng phản chiến, nhưng tôi không biết gì về hoạt động ly khai của anh cho tới lúc này. Thật bất ngờ và căng thẳng, làm sao tôi có thể đi về phía bên kia chiến tuyến? Tôi không hề tham gia vào phong trào phản chiến, tôi chơi với Trịnh Công Sơn, Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường khi họ chưa là người chống lại chế độ Việt Nam Công Hoà. Ngay cả tại “túp lều cỏ” Tuyệt Tình Cốc ở Huế, nơi mà nhà văn Thế Uyên trong một bài viết của anh có tên “Cuộc Hành Trình Làm Người Việt Nam Qua Trịnh Công Sơn” đã tự bạch anh từng đến dự những cuộc họp bàn về đấu tranh chính trị do nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đứng ra tổ chức, tôi cũng chưa bao giờ đặt chân đến đó và thậm chí không hề biết có những việc như thế. Đơn giản vì tôi rời Huế vào sống ở Sài Gòn sau khi tốt nghiệp Mỹ thuật năm 1962, mối quan hệ giữa tôi và họ chỉ là một tình bạn văn nghệ thuần tuý. Để thối thác lời đề nghị ghê gớm này của Ngô Kha, tôi dừng lại trong bóng đêm bên này cầu Kiệu và nói với anh:”Ông thấy con mình vừa đầy năm, bà xã còn quá trẻ và yếu đuối, làm sao mình bỏ nhà đi vào căn cứ với bạn được. Hơn nữa mình không đồng ý cách giết người của họ ở Huế hôm Tết Mậu Thân… thôi chúc bạn lên đường may mắn!”. Thế nhưng, sự việc sau đó lại đưa Ngô Kha đến một hoàn cảnh khác. Anh không đi vào rừng mà về Huế rồi bị bắt và chịu một cái chết bi thảm.

Về Nguyễn Đại Thức là ai mà Ngô Kha dùng đặt tên cho lực lượng đấu tranh của mình?

Theo Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đại Thức nguyên là một hạ sĩ quan quân lực VNCH ly khai đã bắn hụt tướng Huỳnh Văn Cao khi ông dùng trực thăng kiểm soát tình hình Phật giáo xuống đường ở Đà Nẵng và Huế, và đã bị lính Mỹ bắn hạ. Hành động và cái chết của Nguyễn Đại Thức đã đưa Ngô Kha đến sự chọn lựa Nguyễn Đại Thức là tên và biểu tượng cho nhóm quân nhân ly khai đấu tranh chống Mỹ Nguỵ do anh tổ chức. Sau đây là đoạn viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong “Căn Nhà Của Những Gã LangThang”: “…Theo tin tức quân báo của Kha nhận từ đoạn Đà Nẵng, thì lực lượng thuỷ quân lục chiến của Kỳ sẽ chĩa mũi nhọn vào những người của phong trào mà họ cho là nguy hiểm, ngay từ lúc họ đặt chân đến Huế để tránh hậu hoạ. Ngô Kha cùng đi với chiến đoàn ly khai của anh sẽ kéo dài cuộc cầm cự trên đèo Hải Vân, để tạo điều kiện cho tôi thoát…”. Đối với cá nhân tôi, nhờ tiết lộ kinh khủng này của Hoàng Phủ Ngọc Tường, những năm gần đây, tôi mới biết mình đã từng bị Ngô Kha dùng tình bạn để đưa vào cái gọi là Chiến đoàn ly khai Nguyễn Đại Thức mà không biết khi anh rủ tôi đi vào cứ như đã nói ở trên. May mà tôi đã từ chối.

Với bao nhiêu sự việc gắn kết với nhau, hoà quyện, ăn khớp, như thế mà chúng ta vẫn còn hoài nghi, vẫn biện bạch đây chỉ là một thứ tình cảm hồn nhiên hay hoa mỹ hơn, đấy là ý thức về thân phận dân tộc, tiếng nói đòi hoà bình đậm tính nhân bản cho quê hương của một người nghệ sĩ tài hoa như TCS, thì chi tiết sau đây đã được Nguyễn Đắc Xuân tiết lộ và đã xác nhận lại với tác giả bài viết này như sau: “Vào đêm ngày 29-5-1966, trên đường Trần Bình Trọng-Đà Lạt, Trần Trọng Thức (nhà báo), Nguyễn Ngọc Lan (linh mục, đã chết), Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đã cùng nhau bàn về một giải pháp chính trị cho trí thức yêu nước và người đưa ra sự chọn lựa rất quyết đoán và hợp ý với 3 bạn đồng hành với mình: “Không có con đường nào khác cho anh em mình ngoài Mặt trận Giải Phóng Miền Nam!”.

Vậy là đã quá rõ về khuynh hướng chính trị của Trịnh Công Sơn!

Từ Chính Trị Phong Trào đến Chính Trị Cầm Quyền?

Vỡ mộng chính trị cầm quyền

Những ngày trước 30-4-75, Sài Gòn rơi vào tình trạng hỗn loạn. Người thân cộng thì hí hửng, người quốc gia thì lo âu và tìm đường bỏ nước. Mọi thứ sinh hoạt đều tê liệt, tôi nằm trong số người chịu trận, bế tắc, no way out. Trong thời điểm tinh thần sa sút này, tôi thường ghé qua nhà TCS để tìm một thông tin tốt lành vì anh có nhiều mối quan hệ, nhưng cũng không được gì vì TCS từ chối ra đi và cho biết sắp nhận chức Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hoá trong chính phủ Dương Văn Minh lên thay Thiệu-Kỳ, em trai TCS là đại uý Trịnh Quang Hà sẽ được giao làm Cảnh sát Trưởng quận 2 (nay là quận 1). Thế là xong, TCS sẽ tham gia chính quyền được chuyển từ tay Nguyễn Văn Thiệu để thương lượng hoà bình với quân GP đang bao vây Sài Gòn và doạ sẽ tắm máu Sài Gòn nếu VNCH không buông súng.

Thế nhưng, TCS và người em không có tên trong thành phần chính phủ Dương Văn Minh khi các hệ thống thông tin quốc gia công bố ngày 27-4-75 và cũng không có tên kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đống trong vai đệ nhất Phó Thủ Tướng – người bạn chính trị không lộ diện của TCS từ trước sự kiện Tết Mậu Thân 1968, một cố vấn chính trị, một công trình sư cho sự nghiệp chính trị của TCS, đã vận động cho TCS vào chính phủ này như là đại diện của phe Phật giáo. Và với kết quả này, nhà hoạt đầu chính trị trẻ tuổi Nguyễn Hữu Đống đã phải rời khỏi nhà TCS ngay sau đó, sau khi đã ăn ở trong nhà TCS nhiều tháng trước như một người em rể.

Sau này, trong thời Lý Quí Chung còn sống, tôi có hỏi về sự việc này. Với tư cách là một Bộ trưởng Thông Tin và người rất thân cận với tướng Dương Văn Minh, Lý Quí Chung đã xác nhận: không hề có một đề cử nào cho TCS và Nguyễn Hữu Đống vào chính phủ Dương Văn Minh cả. TCS và gia đình đã bị Nguyễn Hữu Đống lừa rồi! Và từ đó TCS đã coi Nguyễn Hữu Đống là kẻ ghê tởm.

Một chút về Nguyễn Hữu Đống

Nguyễn Hữu Đống tốt nghiệp thủ khoa Trường Kiến Trúc Sài Gòn khoảng năm 1964 nhưng không hành nghề kiến trúc sư, bắt đầu chơi thân công khai với Trịnh Công Sơn vào khoảng 1970. Tôi không được biết gì nhiều về nhân vật này ngoài việc chứng kiến sự xuất hiện thường xuyên trong nhà TCS những tháng trước 4/1975 với tư cách em rể TCS, giữa lúc Sài Gòn liên tiếp nhận những thông tin về các tỉnh Tây Nguyên thất thủ, và cũng được biết từ TCS vào những ngày cuối của tháng 4/1975 là: chính quyền mới sẽ vẫn giữ nguyên chiếc ghế Đệ nhất Phó Thủ Tướng của chính phủ đầu hàng Dương Văn Minh (tức ghế của Nguyễn Hữu Đống). Sau đó, Nguyễn Hữu Đống đã vượt biên và định cư ở Pháp.

Thế nhưng, vào khoảng năm 1992, Nguyễn Hữu Đống về Sài Gòn và tìm thăm tôi. Tôi tiếp anh tại nhà và cùng ăn trưa. Thật ra, giữa tôi và Nguyễn Hữu Đống không đủ thân để anh tìm thăm, chẳng qua là chỗ để anh trút hết những gì TCS và gia đình không tiếp khi anh tìm đến thăm họ sau hằng chục năm ly gián từ ngày ấy. Trong những thổ lộ của Nguyễn Hữu Đống có 2 chi tiết đáng chú ý: Một là: Ý tưởng và mô hình kiến trúc Ngôi Đền Tình Yêu có hình quả trứng (lấy từ truyền thuyết Âu Cơ đẻ ra 100 trứng) để TCS chủ trì như một giáo đường là của Nguyễn Hữu Đống; Hai là: để Ngôi Đền Tình Yêu này mang đậm sắc thái TCS, Nguyễn Hữu Đống lập ý cho TCS viết Kinh Việt Nam. Dự án này tôi đã được TCS cho biết trước năm 1975 và sẽ xây dựng trên ngọn đồi của Bác sĩ Bùi Kiến Tín ở Thủ Đức, nằm đối diện với nghĩa trang quân đội Sài Gòn cũ. Xét về mặt tài năng kiến trúc và con người đầy tham vọng làm chính trị của Nguyễn Hữu Đống cũng như mối quan hệ mang tính chính trị giữa anh và TCS thì thông tin này đáng tin hơn là gần đây có nghe dư luận từ Phạm Văn Hạng là dự án này của Phạm Văn Hạng và TCS được ông Võ Văn Kiệt ủng hộ?

(Để biết thêm mối quan hệ chặt chẽ giữa TCS và Nguyễn Hữu Đống, xin độc giả đọc thêm đoạn trích dẫn trong phần ghi chú cuối bài viết này, câu Lê Khắc Cầm trả lời phỏng vấn Nguyễn Đắc Xuân về TCS).

Bài Học Lớn Cho Người Làm Chính Trị Tự Phát Trong Xã Hội CSVN

Những Gáo Nước Lạnh Ngày “anh em ta về”

Tuy nhiên, sau sự thất bại ấy, TCS lại đứng lên vui mừng vì Sài Gòn của anh trong ngày 30-4-75 đã xuất hiện: “Cờ bay trăm ngọn cờ bay” và“anh em ta về mừng như bão cát quay cuồng…”. Từ sự kiện tại Đà Lạt mà Nguyễn Đắc Xuân đã nhắc đến ở trên cho đến ngày 30-4-75 không có một chỉ dấu nào cho thấy có mối liên lạc về mặt tổ chức giữa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Trịnh Công Sơn. Thậm chí khi anh được kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái đưa đến Đài Phát Thanh Sài Gòn để hát bài Nối Vòng Tay Lớn mừng chiến thắng lịch sử 30-4-75, TCS, tác giả của ca khúc có tính dự báo cho ngày huy hoàng này của quân Giải phóng và bi thảm cho phía VNCH, cũng bị Tôn Thất Lập, một nhạc sĩ chủ chốt trong phong trào Hát Cho Đồng Bào đã thoát ly đi theo MTGPMN, đuổi ra khỏi phòng thu: ”Mày có tư cách gì mà hát ở đây!”…

Bị bất ngờ với cú ra đòn khá tàn nhẫn này của người “anh em”, TCS thật sự choáng váng và sợ hãi, mọi niềm hân hoan trong anh về giấc mơ hoà bình cho đất nước của mình nay đã thành hiện thực bỗng chốc tan thành mây khói. Niềm vui tưng bừng reo ca “…Mặt đất bao la / anh em ta về / Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng/ Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam…” (Nối Vòng Tay Lớn) hôm ấy không thuộc về TCS, và thay vào đó là nỗi ám ảnh sắp bị thủ tiêu và phải làm thế nào chạy trốn khỏi “người anh em” càng sớm càng tốt.

Thật ra, tai nạn chính trị này đã có nguồn gốc từ quan điểm chính về tính hai mặt trong âm nhạc và con người TCS của Ban Văn Hoá Tư Tưởng-Trung Ương Cục Miền Nam do Ông Trần Bạch Đằng phụ trách. Chính nhạc sĩ Trần Long Ẩn đã kể lại rằng đã có một cuộc họp kiểm điểm TCS trong Cứ trước 1975 với thành phần tham dự gồm có hầu hết các văn nghệ sĩ thoát ly theo MTGPMN như: Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn,… dưới sự chủ trì của ông Trần Bạch Đằng.

Và Cuộc Chạy Trốn Khỏi Sài Gòn

Sự sợ hãi càng tăng cao khi TCS nhận được tin mình sẽ bị thanh toán. Chỉ vài ngày sau, TCS đã âm thầm cùng mẹ rời khỏi Sài Gòn bằng xe đò, trực chỉ ra Huế, nơi anh cũng đang có những ”người anh em” thân thiết cũ vừa chiến thắng trở về như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Thái Ngọc San,… hy vọng chắc được yên thân.

Trở lại sống trong căn hộ cũ 11 Nguyễn Trường Tộ – Huế, TCS quây quần với bạn bè cũ và mới không được bao lâu thì cả thành phố Huế lên cơn sốt đả đảo TCS và Phạm Duy. Các biểu ngữ được giăng ở các trường đại học và TCS phải lên Đài truyền hình Huế đọc bài tự kiểm điểm. Sự cố lần này cũng lại do một nhạc sĩ tổ chức, nhạc sĩ Trần Hoàn, Giám đốc Sở VH&TT tỉnh Bình Trị Thiên. Thế là TCS đã tránh được vỏ dưa SG nay lại găp vỏ dừa Huế! Sự bé cái lầm lần này, có lẽ do TCS đã kỳ vọng ở bạn mình quá nhiều nhưng thực tế vai trò trong lực lượng tiếp quản Huế của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân rất khiêm tốn, chính họ cũng đang phải cố gắng phấn đấu để được kết nạp vào đảng thì làm sao bao che cho tác giả của 2 ca khúc từng bị người CSVN kết án (Ca khúc “Gia Tài Của Mẹ” với câu: “Hai mươi năm nội chiến từng ngày” đã xúc phạm đến đại cuộc chống Mỹ cứu nước của người CSVN và ca khúc “Cho Một Người Nằm Xuống” để thương tiếc Lưu Kim Cương – đại tá không lực VNCH chết bởi đạn của quân GPMN – người bạn một thời đã từng dùng máy bay không quân đưa TCS lên Đà Lạt thăm Khánh Ly hoặc ngược lại, đón Khánh Ly về hát với TCS) tại Sài Gòn?

Lần này ở Huế, tính tẩy chay TCS nghiêm trọng và công khai hơn hẳn vụ ở Đài Phát Thanh SG vừa qua. Tình bạn cũ trong trái tim TCS sụp đổ đã đành mà giấc mơ “Khi đất nước tôi thanh bình/Tôi sẽ đi thăm…” tưởng dễ thực hiện của anh cũng bị dập tắt. Những tháng ngày tiếp theo ở Huế, TCS sống như một con tin trong Hội Văn Nghệ Bình Trị Thiên, thường xuyên được tổ chức bố trí đi lao động thực tế trên những cánh đồng vào mùa khô cũng như mùa lụt, không hơn gì một người phải chịu cải tạo.

Cuộc Chạy Trốn Lần Thứ 2

Tuy nhiên, đang kẹt trong cái thế “tiến thoái lưỡng nan” này ở tại chính quê nhà, nơi mình từng tham gia hoạt động đấu tranh chống Diệm rồi chống Mỹ-Thiệu trong Phong Trào Đô Thị Huế với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ng K, Nguyễn Đắc Xuân,… cũng không xong mà về lại Sài Gòn thì càng nguy hiểm thì một vị cứu tinh kịp xuất hiện, ông Võ Văn Kiệt – nhà lãnh đạo công sản cao cấp tiếp quản Sài Gòn lúc bấy giờ. Một cuộc vượt biên nội địa đưa TCS vào lại Sài Gòn sau khoảng 1 năm anh phải “đi thực tế” tại các vùng quê tỉnh Bình Trị Thiên được bí mật tổ chức do ông Kiệt uỷ thác cho nhà văn cộng sản Nguyễn Quang Sáng thực hiện thành công. Từ đây, dưới sự ưu ái của ông Kiệt và nhà văn Nguyễn Quang Sáng được uỷ nhiệm của thượng cấp chăm sóc TCS, cái hạn bị hăm doạ hay trù dập với người nhạc sĩ lãng mạn cách mạng này đã kết thúc.

Qua những “sự cố” như thế, có thể thấy TCS đã mắc những sai lầm với người CS như sau:
- Thiếu minh bạch trong suy nghĩ về chiến tranh VN và tính hai mặt trong quan hệ xã hội.
- Không ở trong một đường dây của tổ chức và chịu sự lãnh đạo của tổ chức đó.
- Không dám thoát ly đi theo MTGPMN.

Và những sai lầm của TCS với phía VNCH:
- Kêu gọi phản chiến nhưng chỉ nhằm vào phía VNCH.
- Thiên về phía người CSVN ngay cả sau khi bị họ giết hụt trong vụ Tết Mậu Thân ở Huế.
- Chống lại phía đã tạo cho mình điều kiện học hành và tự do sáng tác, kể cả tự do tư tưởng dù có bị chế độ SG hạn chế và kiểm duyệt, nhưng không quyết liệt tiêu diệt như đã được thổi phồng (dùng giấy của Hoàng Đức Nhã cấp để đi đường do Phùng Thị Hạnh trung gian, nhiều sĩ quan VNCH che dấu…) để có một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tồn tại lừng lẫy như thế cho đến ngày 30-4-75. Dù ý thức chính trị ra sao, Trịnh Công Sơn vẫn là sản phẩm của chế độ VNCH đúng như Đặng Tiến đã nhận định trong một bài viết ở đâu đó mà tôi không còn nhớ tên.

Bước Ngoặt “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”

Sa Lầy vào Rượu và Xu Nịnh

Cuối tháng 5-1978, tôi ra khỏi trại cải tạo, gặp lại TCS. Lần nào đến nhà anh ở 47c Phạm Ngọc Thạch-Sài Gòn, sáng hay chiều, cũng thấy TCS ngồi nhậu rượu Ararat, một loại cô-nhắc Nga (sau “đổi mới” chuyển qua rượu chát đỏ của Pháp, và sau cùng là Whisky Chivas) với Nguyễn Quang Sáng và một số bạn “mới”. Tôi cảm thấy có một điều gì đó không ổn, hình như tôi, một thằng sĩ quan Nguỵ đi tù về, không còn được TCS và gia đình coi là người thân như ngày xưa. Thái độ khó chịu của tôi mỗi lần ngồi trước mặt những người bạn “mới” này của Sơn đã khiến tôi bị TCS và gia đình tẩy chay ngầm.

Thực ra, tôi đã bị TCS và nhóm bạn Huế cũ loại ra từ những năm tháng tôi đi lính VNCH mà tôi không hề biết. Sau này, hoạ sĩ Tôn Thất Văn (đã chết) đã kể lại cho tôi rằng có những cuộc họp ở Huế vào những năm 60-70, TCS và những người mà tôi đã coi là bạn thân tình đã đem tôi ra để phê phán, tẩy chay vì tôi đã không trốn lính và đứng về phía Quốc Gia. Rất tiếc, trong số này lại có cả Đinh Cường, người đã từng học cùng trường mỹ thuật, ở cùng nhà, và do tôi giới thiệu làm quen với TCS, do tôi kết nối với anh bạn Thọ giàu có ở Đà Lạt để có những tháng ngày cùng TCS rong chơi thơ mộng khi lưu lại căn phòng anh Thọ đã thuê cho tôi tại biệt thự số 9 đường Hoa Hồng hay ở trong căn nhà sàn gỗ thơ mộng bên một dòng suối róc rách trong một hóc núi của thị trấn Đơn Dương từ trước khi tôi rời Đà Lạt về Sài Gòn năm 1964 theo giấy gọi vào quân trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức khoá 19. Và cả những tháng ngày nhàn nhã làm sinh viên sĩ quan tại đây vào năm 66 hay 67, lúc này tôi là sĩ quan huấn luyện CTCT và phụ trách một phần nguyệt san “Bộ Binh”. Sau ngày 30-4-75, với cấp bậc Trung uý ngành Công binh VNCH, Đinh Cường trở lại Trường Mỹ Thuật Huế và được miễn đi học tập cải tạo nhờ vào việc đã tham gia các hoạt động đấu tranh chống VNCH của nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, TCS,.., nhiều năm trước.

Có một kỷ niệm đặc biệt với Đinh Cường mà tôi cũng muốn nói ra luôn sau bao nhiêu năm cố giữ chặt trong lòng, để lòng mình thôi nặng trĩu và cũng minh chứng cho một tình bạn không hề có thật mà anh ấy đã dành cho tôi, mà tôi đã hằng chục năm cố nghĩ khác đi, cố không tin. Sự việc xảy ra như thế này: Ngày 1-5-75, 8g sáng tôi đến nhà Đinh Cường ở đường Nguyễn Đình Chiểu cũ, gần chợ Tân Định để xem tình hình như thế nào. Như thường lệ tôi vẫn đến đây dễ dàng như người trong nhà nên rất tự nhiên bước lên cầu thang dẫn lên căn gác của bạn mình. Thế nhưng chị TN, vợ Đinh Cường đã chặn tôi lại ở giữa cầu thang và nói Đinh Cường đi khỏi rồi. Tôi không tin và nói lớn là có hẹn trước, lúc đó Đinh Cường mới nói vọng xuống để tôi lên. Khi lên tới nơi thì đã có mặt của Bác sĩ Trương Thìn, Nhạc sĩ Miên Đức Thắng cùng ngồi đó. Tôi gượng gạo ngồi xuống và Đinh Cường nói với 2 vị khách kia như hỏi ý: “Mình cấp cho TC cái giấy chứng nhận thuộc Thành Phần Thứ 3 nhé!”. Lập tức tôi đứng lên và từ chối: “Không, hãy để tôi chịu trách nhiệm với họ, và Thành Phần Thứ 3, Thứ 4 gì họ cũng dẹp sạch thôi!”…

Với TCS, gia đình cùng các “đồng chí” rượu của anh, tôi lúc này là một kẻ xa lạ, một người lạc hướng, môt cái gai khó chịu, một con kỳ đà làm cho cuộc vui hoan lạc của họ không được hoàn hảo, tôi nên biến đi. Nhưng tôi lại là một gã ngoan cố, tự cho mình nhiệm vụ phải ngồi lại để làm Sơn tỉnh táo hơn, để những tiếng nói bớt đi những lời xu nịnh. Ý thức được rượu, phụ nữ và xu nịnh là một loại ma tuý tổng hợp đang nhấn chìm TCS được nguỵ danh dưới khẩu hiệu “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” nên tôi cố chiụ đựng sự khó chịu của họ và vẫn không tìm cách lấy lại chỗ đứng thân thiết vốn có với TCS thủa còn trai trẻ ở Huế bằng rượu chè, quà cáp đắt tiền và những tán tụng nuông chìu. Tôi vẫn đứng trên đôi chân liêm sỉ và theo đuổi một thứ nghệ thuật tri thức, đó là chỗ mà TCS, trong thâm sâu của tâm hồn anh, không thể loại bỏ tôi cho dù có khác nhau về quan điểm chính trị và cách sống. Đó cũng là điều mà TCS trong những lúc cô đơn nhất đã đến gõ cửa nhà tôi bất kể đêm khuya hay khi bình minh vừa ló dạng để hàn huyên hoặc khoe và hỏi ý kiến tôi về bức tranh mà anh vừa vẽ.

Điều Đáng Tiếc

Trong thời buổi sống như một kẻ bên lề của một Sài Gòn đã bị đổi tên và những người bạn thân một thời hồn nhiên như thế nay cũng đã cúi mình, ngoan ngoãn làm những con rối của chế độ mới, quay lưng lại với thân phận khốn đốn của đồng loại, tự huỷ tri thức, lương tâm, thứ một thời nhờ nó đã làm nên những ca khúc tranh đấu cho thân phận và tự do con người, nay chọn cho mình con đường sa lầy vào rượu, thuốc và phụ nữ, tôi thấy mình thật sự cô độc và bất lực trước sự sụp đổ từng ngày của một người bạn tài hoa nhất mà tôi từng yêu quí. Nhiều khi tôi muốn nói với bạn mình: “Tại sao cậu lại sa đà vào những cuộc chơi phù phiếm? Tại sao cậu không viết những ca khúc cho thân phận VN 2 đang bị một thứ xiềng xích vô hình nhưng vĩnh cửu, vì nó được khoá bởi chính người VN chứ không phải ngoại bang? Hay ít ra thì cậu nên sống yên lặng như một cái bóng, một hòn đá tảng vì cái giấc mơ hoà bình, thống nhất quê hương của cậu dù không phải nguyên nhân chính gây ra sự sụp đổ hoàn toàn nền Cộng Hoà trẻ tuổi MNVN, nhưng về mặt tâm lý cũng đã ít nhiều làm lợi cho phía bên kia, vô tình đồng loã với kẻ đã gây ra cái bi kịch thảm khốc cho hằng triệu người Việt từng ái mộ, tôn thờ cậu nay phải bỏ nước ra đi bằng giá của cái chết không được chôn cất, bằng sự tật nguyền tinh thần, nếu may mắn đến được bờ tự do thì bạn cũng đáng được cảm thông… Vì tôi biết chắc chắn một điều là tất cả những trí thức thiên tả VN như cậu cũng đều không chờ đợi một kết cuộc cho đất nước theo cách như đang diễn ra…”. Nhưng có lẽ trực giác của tôi đã mách bảo rằng điều ấy nằm ngoài khả năng của TCS, cứ để cuộc sống của anh phụ thuộc vào bản năng, đã tiêu vong rồi một TCS mạnh mẽ dấn thân, mạnh mẽ ca hát cho hoà bình đất nước, cho dân tộc ấm no, bình đẳng, tự do và hạnh phúc như ngày nào. Thời cuộc làm ra TCS đấy thôi, anh không phải là người làm ra thời cuộc, nên tôi đà nghẹn họng.

Ảo Tưởng Cuối Cùng

Dần dà rồi TCS cũng tìm lại cho mình một phần phong độ sáng tác nhờ hấp thụ những ngọn lửa nhỏ từ những nhan sắc phụ nữ và sự trân trọng (theo chủ trương) của những nhạc sĩ thuộc Hội Âm Nhạc TP HCM như Xuân Hồng, Hoàng Hiệp, Thanh Tùng, Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn,… và một nhóm nhạc do họ tổ chức có tên “Những Người Bạn” ra đời khoảng thập niên 90, và TCS được coi là đầu đàn. Anh trở thành nhân tố quan trọng nhất trong việc thu hút sự chú ý của công chúng mỗi khi anh có mặt trong các show diễn của nhóm. TCS cũng là một tiếng nói có trọng lượng nhất đối với nhiều tên tuổi hàng đầu của nhạc cách mạng VN như Văn Cao, Trọng Bằng, Hồng Đăng,… trừ ông nhạc sĩ Bộ Trưởng Bộ VH&TT Trần Hoàn (đã nghĩ hưu), người từng mở chiến dịch đả đảo anh một thời ở Huế, là vẫn tiếp tục nhìn TCS như một kẻ xấu.

Dù gì thì thế đứng chính trị của TCS cũng đã được tốt hơn trước rất nhiều, có phải vì thế mà anh đã chủ quan nghĩ mình là người đến lúc nên đứng vào hàng ngũ của đảng? Sơn đem ý định này nói với tôi, tôi liền can:“Không nên Sơn ơi, cậu đang là một nhân vật âm nhạc lớn, người ta nể trọng vì ảnh hưởng của cậu đối với công chúng rất lớn cũng như quốc tế. Nay cậu trở thành đảng viên mới tò te còn ai coi trọng nữa. Nếu ông Hoàng Hiệp chống lai là may cho cậu lắm đó!”. Tôi đã nói với TCS như thế và TCS im lặng. Tuy nhiên không phải nhờ sự phân tích ấy mà TCS không trở thành đảng viên Đảng CSVN, mà bởi sự ngăn cản của nhạc sĩ Hoàng Hiệp, người giữ vai trò chính trị của Hội Âm Nhạc TP HCM và cũng là cán bộ có trách nhiệm quản lý TCS. Trong một lần bất bình vời Hoàng Hiệp về việc bị kiểm điểm, TCS đã chửi thẳng vào mặt Hoàng Hiệp ngay tại trụ sở Hội Âm Nhạc TP HCM: “Mày là thằng mặt lồn!”.

Đã không những không được vào đảng, TCS còn được cho về hưu để vĩnh viễn kết thúc giấc mơ – ảo tưởng cuối cùng của anh.

Cái Chết – Vinh Quang Đích Thực

Nếu con đường chính trị đối với TCS là một con đường dẫn anh xuống vực thẳm thì cái chết là một kết thúc hoàn hảo. Hay nói một cách khác, nó đã giải cứu và trả lại vinh quang đích thực cho anh – vinh quang dành cho di sản ca khúc TCS.

Không chỉ niềm vinh quang này bừng sáng huy hoàng bởi hàng chục ngàn người yêu âm nhạc của anh ở trong nước tiễn đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, mà người Việt trên khắp thế giới cũng nhỏ lệ tiếc thương, nhất là người Việt ở Mỹ, nơi mà Trịnh Công Sơn lúc sinh tiền không dám đặt chân đến dù không ít lời mời. Một lễ tưởng niệm long trọng được tổ chức tại Hội trường báo Người Việt với sự tham dự đông đảo của nhiều giới khác nhau trong cộng đồng ở cả Nam và Bắc California ngay trong đêm 1-4-2001, điều mà trước đó không ai dám nói công khai về tình cảm của mình với TCS ở chỗ đông người tại Mỹ.

Lời Kết

Sau 8 năm Trịnh Công Sơn ra đi, mọi cảm xúc thương tiếc sau cái chết của anh trong mỗi chúng ta cũng đã phần nào chìm lắng, hôm nay, tôi quyết định và chọn lựa thời điểm này để viết về một góc khác, một phương diện khác của Trịnh Công Sơn mà chưa ai viết hoặc viết một cách có hệ thống
Bài viết này chắc chắn sẽ gây ra sự mất mát tình cảm, sự đổ vỡ các mối quan hệ vốn có của tôi, vì một số những nhân vật được đề cập nay đang còn hiện diện trong cuộc đời. Sự thật bao giờ cũng gây mất lòng, tôi đã tự hỏi mình nhiều lần trong nhiều năm qua: có nên viết nó ra, giải thoát cho nó khỏi ngục tù trong tôi suốt hơn 30 năm qua? Sự quằn quại của nó trong cái nhà tù ký ức cũng làm tôi đau buồn đến không chịu nổi. Giải phóng cho nó là giải phóng cho chính tôi, dù có phải bị trả giá.

Đó là về phần cá nhân tôi, còn đối với TCS, bài viết này tôi muốn bổ sung thêm những điều mà trong các cuộc nói chuyện về TCS ở Mỹ tôi đã không thể nói hết được. Một nửa sự thật cũng chưa phải là sự thật. Tôi tin vào điều tốt đẹp của sự thật. Nó có thể sẽ làm tan đi hình ảnh một TCS được tô vẽ bởi những huyền thoại và ảo ảnh lấp lánh trong lòng ai đó, nhưng sẽ trả lại một TCS thiên tài đích thực của âm nhạc như nó vốn có, để mọi người nếu đến với nhạc Sơn thì sẽ có được cơ may yêu mến trọn vẹn một con người có thực, chứ không phải một thứ tượng đài được nhào nặn, tô vẽ và dựng lên vì một mục đích riêng. Đã đến lúc sự thật đó cần được trả lại cho những người Việt đã, đang và sẽ mãi còn coi nhạc Trịnh là lẽ sống của mình, mang nó theo mình như một thứ tài sản vô giá dù đi đến bất kỳ đâu, dù ở chiến tuyến nào.

Tất nhiên, những lập luận và lời kể trong bài viết này dựa vào những gì tôi đã trải qua, những tư liệu riêng và những tư liệu của những người bạn cũ của TCS mà họ đã công khai phổ biến trên các phương tiện truyền thông, và vì thế chắc chắn còn thiếu sót tất yếu, vì tôi biết còn nhiều sự thật đang được cất dấu bởi những người có quan hệ cận kề với TCS trong từng giai đoạn của lịch sử VN từ 1954 đến hôm trước khi TCS qua đời mà họ vì những lý do nào đó chưa tiện nói ra. Tôi xin cám ơn những ai sẽ đóng góp thêm những gì giúp cho bài viết này được hoàn hảo hơn, kể cả những phản biện.

Sau cùng, mỗi con người Việt Nam đã trải qua và sống sót sau cuộc chiến tranh khốc liệt vừa qua đều giữ trong mình những sự thật riêng, một gốc nhân chứng riêng, xin quí vị hãy trả lại nó cho lịch sử, nếu được như thế thì tấm gương lịch sử VN mới trong sáng được. Cũng vì điều này, cho tôi xin lỗi những gì mà bài viết có làm tổn thương đến một ai đó cũng là vì không còn sự lựa chọn nào khác.

Sài Gòn 29/3/2009
TRỊNH CUNG”

Trước hết

Bài nầy được dăng trên web : http://damau.org/archives/5055

Sau đó đăng trên Đạc Trưng, và blog CGDL


LT đẵ trả lời và đăng lại đây

” Nếu đã trích bài TC, sao bác kg trích tiếp bài hỏi lại TC những điểm mang đầy nghi vấn trong chính bài TC ?

bài hỏi TC đây

Trần Am viết:

Bài viết của Trịnh Cung là một bài viết thú vị về Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ thuộc loại “huyền thoại” của âm nhạc Việt Nam . Và vì ông đã là một đạng huyền thoại , bài viết của Trịnh Cung có chiều hướng tích cực trong sự đánh đổ huyền thoại đó . Ai đó đã nói : Việt Nam là một nước qúa nhỏ nhưng có quá nhiều anh hùng, quá nhiều huyền thoại . Hiển nhiên, đó một điều không tốt .
Tuy nhiên , vì bài viết của Trịnh Cung đề cập quá nhiều dữ kiện, trước khi có ý kiến, cho phép tôi đặt ra nhiều câu hỏi , nếu được trả lời, thì quý giá biết bao .
Người theo dõi TCS xưa nay, ai cũng biết về tình bạn của bộ ba TCS, Trịnh Cung và Đinh Cường . Bài viết của Trịnh Cung nhắm vào 2 đối tượng : TCS và Đinh Cường, 2 người bạn (đã từng) chí thân , có lẽ là một điều hơi bất bình thường đối với một quan hệ văn nghệ bạn bè kéo dài qua bao nhiêu thập kỷ . Chắc người đọc cũng sẽ phải tự hỏi : tại sao Trịnh Cung làm điều đó ? có thực để “đứng trên đôi chân liêm sĩ” của mình để nói ra những điều bưng bít chăng ? hay người viết có một mục đích, tâm địa nào khác ?
Vì bài viết nêu quá nhiều dữ kiện, tôi xin hỏi đôi điều trước khi tìm cách hiểu cặn kẽ hơn về bài viết :
1/ Trong gần 3 năm đi học tập cải tạo, TCung chỉ “nghe nói” về những gì xảy ra với TCS trong 3 năm đầu sau 75 . Điều gì khiến ông chắc chắn những gì nghe được là đúng ?
2/ Thông tin từ Nguyễn Hữu Đống trong một bữa ăn để “kể tội” TCS vì sự hiểu lầm cá nhân, điều đó có đáng tin cậy hoàn toàn ?
3/ Ngày “anh em ta về”, câu nói của Tôn Thất Lập làm sao để kiểm chứng ? Nhạc sĩ TTL còn sinh hoạt văn nghệ ở SG và có mặt lúc đó, có lẽ chỉ có ông mới biết được sự thật hôm 30 tháng 4 ở đài Phát Thanh của TCS thế nào (trong lúc Trịnh Cung không có mặt)
4/ “Huế với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ng K, Nguyễn Đắc Xuân, ..” Tại sao trong một bài viết đầy tính vạch trần, Ng K. là ai mà không được tiết lộ ?
5/ “Thực ra, tôi đã bị TCS và nhóm bạn Huế cũ loại ra từ những năm tháng tôi đi lính VNCH mà tôi không hề biết. Sau này, hoạ sĩ Tôn Thất Văn (đã chết) đã kể lại cho tôi” …
Lại trích lời một hoạ sĩ quá cố kể lại ?

6/ “Sau ngày 30-4-75, với cấp bậc Trung uý ngành Công binh VNCH, Đinh Cường trở lại Trường Mỹ Thuật Huế và được miễn đi học tập cải tạo nhờ vào việc đã tham gia các hoạt động đấu tranh chống VNCH …” Theo tôi biết, sau 30 tháng 4 ở thành phố Huế, có nhiều người mang chức bật Đại Uý , thậm chí cao hơn , cũng không bị đi cải tạo . Sự quyết định xảy ra từng vùng, tuỳ vùng . Sự tố cáo của Trinh Cung với người bạn họa sĩ kia cần được chứng minh thêm – “hoạt động chống VNCH” cụ thể là gì ?

7/ “Khi lên tới nơi thì đã có mặt của Bác sĩ Trương Thìn, Nhạc sĩ Miên Đức Thắng cùng ngồi đó. Tôi gượng gạo ngồi xuống và Đinh Cường nói với 2 vị khách kia như hỏi ý: “Mình cấp cho TC cái giấy chứng nhận thuộc Thành Phần Thứ 3 nhé!”.” .

Sau 30 tháng 4, những nhân vật như Bác sĩ Trương Thìn, Nhạc sĩ Miên Đức Thắng có quyền cấp giấy miễn cải tạo cho TCung không ? và nếu có được , liệu TCung có thật sự anh hùng để từ chối và tự nguyện đi tù trong một hoàn cảnh rất tối tăm và cái chết có thể đến trong những lời đồn “tắm máu” thời đó chăng ?

Tôi tự hỏi vì thật sự tôi đã sống trong khu phố của Trịnh Cung ở SG . Sau gần 3 năm cải tạo, có lẽ được “cải tạo” đúng mức chăng, TCung trở về xung phong làm tổ trưởng tổ dân phố rất gương mẫu và phục vụ chính quyền Phường Quận chăm chỉ . Ông có khoe biết cách “đút lót” để cho 2 con vào trường âm nhạc **** . Ông thậm chí viết trình lên Uỷ Ban **** một lá thư tố cáo người bạn thân TCS về quan hệ của TCS với những nhận vật như Lưu Kim Cương, Nguyễn Cao Kỳ …để lập công . Sau đó, TCung làm mọi cách để xin vào làm thành viên Hội Mỹ Thuật Việt Nam, trụ sở ở Hà Nội . Xin nhắc lại , đây là những điều tôi tai nghe , nhưng nếu tôi chỉ biết nêu lên những dữ kiện trên, thì mức độ đáng tin cây đến mức nào ? chắc chắc rất nhiều người không tin , tuy rằng đó là điều thật .

Theo tôi biết, Bác sĩ Trương Thìn, Nhạc sĩ Miên Đức Thắng vẫn còn sống . Chắc bài viết sẽ thêm giá trị nếu được sự minh chứng của cách nhân vật được nêu tên . Tôi vẫn giữ trong tay vô số minh họa cờ đỏ sao vàng, anh bộ đội của TCung trên báo Xuân ****. Liêu một người như thế có quyền lên án sự “theo thời” của TCS , nếu có ?

Về khoản “Rượu chè, phụ nữ …” Tôi từng đọc rất nhiều bài báo về TCung , nhất là trong các chuyên đi Mỹ của ông, về cách ông mê , chiêu dụ phụ nữ đẹp thế nào . Điều đó hoàn toàn chấp nhận được. Tuy nhiên, bài viết cho cảm tưởng TCung là một người đứng ngoài những “hoan lạc” (!) trên để giúp đở TCS về với con người liêm sĩ ? Còn vô số hình ảnh trên web TCung choàng vai TCS bên những cuộc vui mà ông gọi là hoan lạc đó ? Ông vào đó có thật sự như một người canh giữ TCS ?

Để bài viết được “convincing” hơn, tôi đề nghị tác giả minh chứng thêm những điều ông kể ra trong lúc vắng mặt, chỉ nghe qua người khác , hoặc có được sự xác nhận từ những nhận vật còn sống, cũng là những “nhân chứng TCS” . Cảm ơn ông, nếu các câu hỏi được làm rõ thì quý biết bao .

- 01.04.2009 vào lúc 11:15 am “

tiếp đến

trong bài TC, TC hay nhắc đến 1 nhân vật, Nguyễn Đắc Xuân, trong những dẫn chứng, nhưng thiếu bằng chứng. NDX là 1 nhân vật gây không thiếu những cái nhìn không thân thiện tứ mọi phía.

Sao thế ? Sao kg nói gì về NDX ?

và TC hay dẫn chứng từ nhiều nhân vật “tâm tình” thế nầy thế nọ. Những nhân vật nầy đã chết, và dẫn chứng của TC cốt để tự đánh bóng

Có lẽ TC chỉ dám viết bài nầy khi TCS nằm xuống, như các nhân vật dẫn chứng của TC, để TC độc quyền độc thọai

tại sao, mãi đến gần dây, TC vẫn còn cố tình thân thiện với các người thân và gia đình của TCS…..

À, tôi hiểu rồi, TC bị mấy người ấy kg thích mấy, như TC viết trong bài. Sao không thấy TC nhắc đến lý do vì sao gia đình và người thân TCS không thích TC nữa? Sao TC không nêu lý do là vì TC tố cáo TCS với CS để lập công ? như trong bài hỏi TC

À phải rồi, ngại quá, viết như thế thì bố nào tin lời mình viết ra

Có lẽ vệc nầy, giải thích bài kia

như

như việc TC với 1 người yêu TCS….

sau khi TCS mất

Thật là khó hiểu

Cùng 1 người, cách đây không lâu, viết về TCS, với giọng điệu khác

” ……….

Người ta gọi nhạc Trịnh Công Sơn – ở một số ca khúc – là nhạc phản chiến . Tôi đồng ý với anh Phạm Duy, chữ “phản chiến” không đầy đủ ý nghĩa của nó, bởi vì chữ phản chiến nghe ra có vẻ kết án, có vẻ phải gánh chịu cái hậu quả của sự thất bại của Miền Nam . Tôi cho là chữ “thân phận” của người Việt thì khái quát hơn.

Một thanh niên Việt Nam ở bất kỳ thời đại nào, vẫn đầy sự hồn nhiên, và vẫn đầy lòng lương thiện để có một lý tưởng cho dân tộc, cho sự công bằng, cho sự không đổ máu , cho sự đoàn kết, cho sự thương yêu … và cái chất đó có hầu hết ở chúng ta, và có hầu hết ở các lứa tuổi đang bước vào Ðại Học … nhưng tuổi trẻ không bao giờ lường trước được những âm mưu của chính trị – cho nên sự hồn nhiên đó phải trả giá.

Trịnh Công Sơn viết những bài Nối vòng tay lớn, Huế-Sài Gòn-Hà Nội 20 năm xa vẫn còn xa …Ðể làm gì? Ðể ước mơ đất nước hòa bình thống nhất – để ước mơ anh em bắt tay nhau khi mà người di cư đã viết về “Hà Nội ơi ta nhớ…”, thì rõ ràng không ai lại không nhớ Hà Nội nếu bỏ quê hương ra đi, không ai không muốn gặp lại người thân … thì Trịnh Công Sơn đã đứng làm kẻ chịu vác cái thánh giá đó với bao nhiêu bi kịch sau đó .
Tôi và Sơn là hai người bạn, khác nhau hai hoàn cảnh. Tôi là sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Tôi chấp nhận đi Thủ Ðức bởi vì tôi không muốn sự bất hợp pháp. Tôi là một công dân tôi phải làm việc của người công dân, cho dù là chính quyền đó có thối nát, có gì đi nữa – tôi không chấp nhận sự bất hợp pháp cho nên tôi đi lính. Tôi thi hành nghĩa vụ của mình. Còn Sơn thì khác, anh không chấp nhận chuyện đó, Sơn chỉ đi vì lý tưởng của mình.

Bởi vì chúng ta là những con người chọn dân chủ, chọn tự do thì phải tôn trọng tự do của kẻ khác; vì vậy cho nên chúng tôi vẫn chơi với nhau trong tình người, còn việc làm của ai thì người đó đeo đuổi riêng của họ.

Đến ngày 30 tháng Tư thì Sơn ở lại. Tôi nhớ buổi chiều đó, Ðỗ Ngọc Yến đến đón Sơn với một nhà báo Mỹ đề nghị Sơn đã có máy bay đưa gia đình Sơn đi Hoa Kỳ. Tôi rất muốn đi Hoa Kỳ nhưng mà Ðỗ Ngọc Yến lại không hỏi tôi. Sơn ở lại thì tôi cũng đành ở lại. Tôi thì đành thôi và sau đó thì tôi đi học tập ba năm.

Còn Sơn cũng không hơn tôi đâu. Khi các bạn đã rời khỏi đất nước ngày 30 tháng Tư, có lẽ các bạn không biết chuyện gì đã xảy ra cho Sơn. Sơn phải trốn ra Huế sau khi được đánh tiếng là sẽ bị thủ tiêu bởi vì tính chất hai mặt của Sơn trong âm nhạc và tính chất hai mặt của Sơn trong cuộc đời. Bởi vì Sơn là bạn của những nhân vật cao cấp của chính quyền Sài Gòn. Sơn đã từng viết Cho Một Người Nằm Xuống về cái chết của Lưu Kim Cương và đồng thời với Hai Mươi Năm Nội Chiến từng ngày, thì điều đó người cộng sản không chấp nhận. Tôi nghe kể lại cuộc họp ở trong khu người ta lên án Trịnh Công Sơn.

Chúng ta không biết bi kịch đó cho nên chúng ta có những ngộ nhận đáng tiếc. Sau đó Sơn phải về Huế để tìm một nơi nương tựa bởi vì ở đó Sơn có nhiều anh em. Anh hy vọng là họ sẽ giúp đỡ mình; nhưng, tránh võ dưa gặp võ dừa, ở đây Sơn còn bị nặng hơn nữa là bị tố cáo tại các trường học, các biểu ngữ giăng lên. Sơn phải lên đài truyền hình Huế nhận lỗi của mình – mà người ta gọi là bài thu hoạch. Sơn rất khéo léo trong bài nhận lỗi đó. Chính Sơn kể cho tôi nghe – Hoàng Phủ Ngọc Tường không đồng ý bài đó, nói phải viết lại vì chưa thành thật. Bạn thấy chưa?

Người ta quyết liệt ghê gớm lắm trong sự kiểm soát. Sơn đã đóng cửa nhà mình, không tiếp Hoàng Phủ Ngọc Tường trong nhiều năm. Sau đó, Sơn phải đi thực tế, tức là đi để biết người nông dân cày bừa cực khổ như thế nào. Sơn đi trên những cánh đồng còn rải rác những chông mìn. Sơn đã thoát chết trong một lần; một con trâu đã cứu Sơn khi nó đạp quả mìn mà đáng lẽ Sơn sẽ đạp.

Bởi vì tài năng âm nhạc của Sơn quá lớn, cho nên trong số những người lãnh đạo đất nước đó, cũng có người khôn ngoan hơn, biết cách thức hơn để giữ Sơn lại bằng cách bao bọc cho Sơn khỏi những tình huống hiểm nghèo như vậy. Họ đã tìm cách đưa Sơn về Sài Gòn, trả lại hộ khẩu cho Sơn, tạo điều kiện để cho Sơn yên tâm sống ở Sài Gòn.
Rất nhiều người nghe nhạc Sơn thầm lén nhất là từ miền Bắc, trong đó có nhiều đảng viên cộng sản, nhưng không ai dám công khai thừa nhận nhạc của Sơn là tài sản của đất nước và Sơn không được phổ biến âm nhạc lúc đó – hiển nhiên âm nhạc hải ngoại là phản động. Ngay cả Sơn còn không được phổ biến, mà phải đợi một thời gian đổi mới và cải tổ. Vì vậy cho nên, Sơn là một bi kịch thu nhỏ của bi kịch đất nước. Và Sơn đã nghe được những luận điệu chống mình ở tại hải ngoại, nên Sơn rất sợ mặc dù có nhiều lời mời ở các đại học. Sơn đều không dám đi. Sơn từ chối, vì Sơn sợ cộng đồng ở đây sẽ đả đảo sẽ gây ra những nguy hiểm cho Sơn. Cho đến ngày Sơn mất. Có người đã về đề nghị đưa Sơn sang đây để thay gan cho Sơn miễn phí nhưng Sơn cũng từ chối.

Trong thời gian 25 năm sau ngày mất Sài Gòn, tôi cũng kẹt ở lại – tôi đã chơi với Sơn, và tôi đã không làm gì được cho Sơn – để Sơn bị một căn bịnh đã dẫn tới hậu quả tàn khốc, tức là nghiện rượu. Bởi vì buồn, bởi vì cô đơn, bởi vì không biết sử dụng thời gian để làm gì … vì những ca khúc viết ra đều bị phê bình nặng nề – như bài “Em ra đi nơi này vẫn thế …” ở bên này cũng kết án bài đó – ở bên kia lại kết án là “Tại sao đất nước đã thay da đổi thịt mà anh lại viết là em ra đi nơi này vẫn thế? Sài Gòn vẫn còn nguyên à?” Người nghệ sĩ luôn đi giữa hai lằn đạn! Có ai hiểu được là Sơn cô đơn như thế nào!

Và trong nhiều sáng tác của anh, nếu chúng ta tinh ý, thì chúng ta sẽ thấy tư tưởng của TCS sau ngày mất nước. Sơn đã viết “Đường chúng ta đi, đi không bao giờ tới …” Những ca khúc nói lên sự quạnh quẽ, sự tuyệt vọng, sự bất an của mình.Ðó là một dòng nhạc đặc biệt mà có người không hiểu chê là thua những ca khúc anh viết trước 75 để chỉ chấp nhận tình khúc của anh mà thôi. Chúng ta không biết đến một dòng nhạc triết lý và đầy đau thương đã ra đời một cách lặng lẽ âm thầm.

Ngay cả bài Nhớ mùa thu Hà Nội cũng đã bị cấm hai năm – chỉ vì câu – chỉ vì câu gì các bạn biết không? Mùa Thu – chữ Mùa Thu Hà Nội đã trở thành thuật ngữ Cách Mạng Mùa Thu – thì TCS đã viết “Từng con đường nhỏ sẽ trả lời cho ta … đi giữa mùa Thu Hà Nội để nhớ một người và nhớ mọi Người …”

Người ta đặt câu hỏi: Nhớ một người là nhớ ai? Và từng con đường nhỏ tại sao lại phải trả lời? Hà Nội, những con đường của Hà Nội tại sao lại phải trả lời? Trả lời cho ai? Trả lời cái gì? Ðó là nhớ Khánh Ly và Khánh Ly sẽ đem phục quốc về … Với sự suy diễn như vậy , méo mó như vậy, bài hát đó đã bị cấm hai năm. Các bạn có biết cái nỗi đau của người sinh ra đứa con tinh thần như thế nào?

Và chúng ta sai hay đúng, hãy tự soi lấy mình – khoan kết án người khác sai hay đúng – bởi vì trong chúng ta cũng đều bị lừa dối ! Chúng ta đã trưởng thành chưa sau nhiều lần bị lừa dối về chính trị – thì chúng ta đừng trách Trịnh Công Sơn và đừng trách những người nghệ sĩ nhạy cảm và chân thật với cuộc đời với con người.

Tôi xin kết thúc ở đây – để dành thời gian cho các bạn khác – tôi là một người bạn – là một nhân chứng sống trong nhiêu năm với TCS. Những ngày tháng cuối cùng của anh, tôi đã ở bên anh mỗi lần tôi có mặt ở Việt Nam. Buổi sáng, tôi ngồi với anh dưới bóng cây để uống trà, để nhìn nhau cho đỡ nhớ, để nói với nhau một vài thông tin về bạn bè – rồi đi về. Sơn ngồi ở cái vườn trên gác nhà anh, có một cây hoa sứ già 28 năm, một giàn hoa giấy … nó đã trở thành một cánh rừng nhỏ của Sơn và tôi đã nhìn Sơn tàn phai theo nắng chiều qua những tia nắng hoặc cuối mùa, cuối ngày qua những chiếc lá của cánh rừng bông giấy. Và thỉnh thoảng có vài tiếng chim hót như chia sẻ cái nỗi cô đơn của Sơn. Buổi chiều, tôi và Sơn đi ra ngoài một cái nhà hàng mà các bạn chắc còn nhớ, đó là Givral để nhìn qua bên kia khách sạn Continental để nhìn cuộc đời đi qua, để nhìn những nguời Việt Nam đang hấp tấp vội vã trên đường phố, để nhìn một chút trời xám , để nhìn vài cánh én … Rồi Ði Về.

Sơn thèm đi ra phố – Sơn thèm hơi của thành phố. Bởi vì chúng tôi là những con người đã gắn bó với Sài Gòn từ lúc trẻ cho nên “Chiều một mình qua phố …” hay “Chiều chủ nhật buồn, nằm trong căn gác đìu hiu …”Ðó là đời sống của chúng tôi, và nó theo chúng tôi mãi mãi. Và Trịnh Công Sơn – hôm nay tôi được dịp để nói về anh, về cái sự tuyệt vời chịu đựng một bi kịch kéo dài cho tới ngày mà căn bịnh quái ác đã đục khoét tinh thần sức khỏe của anh cho đến hơi thở cuối cùng. Bởi vì sự cô đơn thật không có điểm tựa để làm việc. Và anh đã chết vì cơn bịnh này.

Trịnh Cung “

1 người, vẫn 1 đối tượng, 2 lối viết, 1 tâng, 1 hận

Vì sao ?

(Nguồn bài viết này: thugiang.wordpress.com)

=====================

Number2: “… Gia tài của Mẹ một bọn lai căng, gia tài của Mẹ một lũ bội tình…” (Trịnh Công Sơn).

04
Tháng 4
09

Xem người Nhật triển khai tên lửa chống tên lửa Triều Tiên

Xem người Nhật triển khai tên lửa chống tên lửa Triều Tiên

Nhật Bản nhiều ngày nay đang hối hả triển khai các đơn vị tên lửa Patriot của Lực lượng phòng vệ trên không (ASDF) để bắn hạ tên lửa của Triều Tiên trong trường hợp vụ phóng thất bại và tên lửa rơi xuống lãnh thổ Nhật Bản.

  • Toàn cảnh vấn đề “hạt nhân” Triều Tiên

Đây là lần đầu tiên Nhật Bản sử dụng lá chắn tên lửa đạn đạo để đánh chặn tên lửa và các mảnh vỡ tên lửa kể từ khi nước này bắt đầu xây dựng hệ thống trên vào năm 2003.

Thủ tướng Nhật Bản Taro Aso cho biết mặc dù có rất ít khả năng mảnh vỡ tên lửa sẽ rơi trong lãnh thổ Nhật Bản song nước này vẫn quyết định triển khai hệ thống phòng vệ nhằm đảm bảo an ninh tối đa.

Xin giới thiệu chùm ảnh phản ánh lực lượng Nhật triển khai các đơn vị tên lửa Patriot:

Xem người Nhật triển khai tên lửa chống tên lửa Triều Tiên

Đơn vị tên lửa Patriot đã được di chuyển tới các vị trí trong và ngoài thủ đô, trong đó có trụ sở chính của Bộ Quốc phòng ở gần Hoàng cung Nhật Bản.

Xem người Nhật triển khai tên lửa chống tên lửa Triều Tiên
Lính Nhật liên tục tuần tra quanh vị trí đặt tên lửa.
Vị trí đặt tên lửa được rào nghiêm ngặt.
Lính Nhật tuần tra quanh vị trí đặt tên lửa.
Canh gác ngày đêm.
Hai đơn vị tên lửa Patriot khác, đang đóng tại căn cứ không quân Hamamatsu ở tỉnh Shizuoka, cũng sẽ được di chuyển tới khu vực Đông Bắc Nhật Bản, trong đó một đơn vị tới thành phố Akita và một tới quận Morrioka ở tỉnh Iwate.
Một sỹ quan đi qua vùng đặt tên lửa.
Khu vực đặt tên lửa thi thoảng có cả thú hoang chạy qua.

Nhật Bản cũng sẽ triển khai một số tên lửa đất đối không PAC-3 tới trung tâm thủ đô Tokyo và vùng biển phía Bắc, nơi cũng sẽ được triển khai hai tàu khu trục mang tên lửa hạm đối không SM-3.

Xe chở thiết bị của tên lửa Patriot.
Xe chở thiết bị của tên lửa Patriot.

Tên lửa Patriot trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu.

Người phát ngôn Chánh văn phòng nội các, ông Takeo Kawamura, kêu gọi người dân Nhật Bản bình tĩnh vì nguy cơ rơi mảnh vụn tên lửa là rất thấp.

Người dân Nhật Bản theo dõi quân đội triển khai tên lửa.

Ảnh đồ hoạ cho thấy hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ, Nhật có thể được triển khai khi Triều Tiên có thể phóng tên lửa hoặc vệ tinh (Ảnh AFP)

Những động thái trên diễn ra trong bối cảnh căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên đang nóng lên từng ngày do thời điểm diễn ra vụ phóng vệ tinh, theo như lời Bình Nhưỡng, đang đến gần.

Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc cho rằng đây chỉ là  vỏ bọc cho việc bắn thử  tên lửa tầm xa Taepodong-2 có khả năng bắn tới miền Tây nước Mỹ. Ba nước này đe dọa sẽ bắn hạ tên lửa của Triều Tiên nếu được phóng lên.

Nhật Vy (Ảnh của THX, AP, Reuters, AFP)

(Theo Tin247.com)

16
Tháng 3
09

Bao giờ nguồn ODA Nhật Bản trở lại?

Bao giờ nguồn ODA Nhật Bản trở lại?

Bùi Tín
16.03.2009

Nguồn hỗ trợ ODA Nhật Bản – chi viện chính thức của chính phủ Nhật bản cho nhân dân ta dưới hình thức cho vay dài hạn với lãi xuất ưu đãi, đã bị cắt từ đầu tháng 12-2008. Trên thực tế, nguồn chi viện ấy đã bị chính phủ Nhật treo lại ngay từ giữa tháng 8-2008, khi vụ ăn hối lộ của quan chức Việt Nam do công ty Nhật PCI (Pacific Consultant Institute) đưa, lên đến hơn 2 triệu đôla, bị tiết lộ.

Chính phủ Nhật tỏ ra rất hào phóng trong viện trợ cho Việt Nam. Đã 2 năm nay, ODA Nhật Bản lên đến mức trên 1 tỷ đôla/năm, luôn dẫn đầu, vượt rất xa mọi nước khác, bao gồm một loạt dự án lớn nhất đất nước về đường xá, cầu cống, hải cảng và khu công nghiệp mũi nhọn, đòi hỏi vốn lớn, kỹ thuật cao. Như các nước khác, hỗ trợ Việt Nam qui mô lớn, Nhật Bản cũng mong các công ty, nhà thầu của Nhật sẽ nhận được những gói thầu lớn, theo đúng pháp luật, có lợi chính đáng cho cả 2 bên. Nhiều lần quốc hội Nhật, báo chí Nhật tỏ ra lo ngại, giận dữ khi một số hỗ trợ ODA lấy từ tiền thuế dân Nhật đóng, giúp vài nước châu Phi bị cắt xén do tệ quan liêu và tham nhũng, làm tha hoá bộ máy cai trị.

Bộ kế hoạch và đầu tư và ngành giao thông vận tải Việt Nam hiểu rất rõ vụ hối lộ của PCI cho các quan chức Việt Nam gây nên tổn thất và trở ngại to lớn ra sao. Các công trình trọng điểm lớn nhất bị dở dang, đình trệ, vốn bị cạn, công nhân không việc. Có thể nói từ thủ tướng, phó thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng, ngành giao thông, giới làm kinh tế cho đến người dân trong nước đều trông mong – mỗi người do động cơ khác nhau – vốn ODA Nhật Bản (dự tính 900 triệu đôla cho năm 2009 này), được nối lại rất sớm.

Đã có nhiều thông tin lạc quan theo hướng ấy.

Nào là từ tháng 1-2009, cựu thủ tướng Nhật Yasuo Fucuda thăm Hà Nội đã ủng hộ việc sớm nối lại nguồn ODA. Nào là Hoàng Thái tử Nhật Naruhito mới thăm Việt Nam tháng trước cũng tuyên bố sẽ thúc đẩy việc này. Rồi cũng trong dịp này, tài tử trứ danh Sugi Ryotaro với danh nghĩa “đại sứ hữu nghị đặc biệt”, cũng chung một ý định, sớm nối ODA Nhật. Mới đây hãng tin Nhật Kyodo và Việt Nam thông tấn xã cùng đưa tin là văn Bản về nối lại ODA sẽ có thể ký giữa 2 bên cuối tháng 3, nghĩa là chỉ trong một, hai tuần lễ. Vậy bà con ta đã có thể trông chờ điều tốt đẹp sắp tới trong quan hệ Nhật – Việt?

Nên thận trọng, kẻo lại bị bất ngờ.

Một số nhà báo Nhật Bản bạn cũ của tôi, từ Tokyo và Bangkok, cho biết ý nghĩ của họ trong việc này. Thông tin điều này có thể là có ích. Họ cho rằng “quả bóng vẫn ở phía chân Việt Nam”; rằng “hồ sơ vẫn còn trên bàn của bộ chính trị cộng sản Việt Nam”; rằng “mọi sự còn phụ thuộc ở Việt Nam có thái độ ra sao đối với bị cáo ăn hối lộ”; rằng “nhiều công ty, nhà thầu Nhật Bản lobby (vận động hành lang) mạnh để sớm nối lại ODA, nhưng ngành ngoại giao và lập pháp ở Nhật vẫn rất nghiêm, họ còn cân nhắc kỹ “. Một anh bạn Nhật chân thật: “đáng tiếc, thủ tướng của Việt Nam hình như ít am hiểu tập quán ngoại giao và tâm lý ngoại giao, ít hiểu văn hoá Nhật chúng tôi trong vụ này”. Trao đổi một hồi trên điện thoại viễn liên, tôi mới vỡ lẽ các bạn Nhật muốn nói gì.

Các bạn Nhật muốn nhắn rằng, với nước Nhật, cần gõ cửa cho đúng. Vì xã hội Nhật phân công rạch ròi, không ai đạp lên chân ai, dễ ngã cả loạt. Cái kiểu Hà Nội tranh thủ cựu Thủ tướng Fucuda, rồi tranh thủ Hoàng thái tử Naruhito, săn đón đại sứ hữu nghị đặc biệt Sugi Ryotaro là rất ít hiệu quả. Bởi lẽ, theo tập quán Nhật, thủ tướng đã ra đi sẽ không can thiệp vào việc của thủ tướng kế nhiệm; mọi việc đã bàn giao xong. Hoàng thái tử chỉ lo chuyện lễ nghi và từ thiện, không được, không dám làm gì khác, kỵ nhất là chuyện kinh tế, đấu thầu, tiền bạc, tòa án. Còn Đại sứ “hữu nghị loại đặc biệt”, ông ta chỉ có nhiệm vụ cười cười rộng rãi và dễ dãi, cúi đầu gật gật xã giao cho thật dẻo, và tối kỵ lấn sân sang vị đại sứ toàn quyền chuyên nghiệp. Cứ yên chí cả tin ở các vị này, khéo mà lầm cửa.

Cái “không hay” của thủ tướng Dũng, có thể nói cái “hớ hênh không nên có” của ông Dũng còn là làm mất lòng một nhân vật Nhật Bản trực tiếp tham gia quyết định cắt và nối nguồn ODA Nhật cho Việt Nam. Đó là đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản ở Hà Nội Mitsuo Sakaba. Ông M.Sakaba là một nhân vật nhiều triển vọng của ngành ngoại giao Nhật Bản. Ông được đào tạo rất bài bản, thành thạo Anh, Pháp, Hoa ngữ… Ông từng là đại sứ Nhật ở UNESCO – Paris trong 2 năm, rồi về Tokyo làm người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nhật. Các nhà báo Anh, Pháp, Đức, Mỹ … hồi ấy rất “mê” những buổi họp báo của ông Sakaba, bởi ông bao giờ cũng nắm được thực chất câu hỏi của các nhà báo quốc tế để trả lời ngay thật, pha chút hóm hỉnh, thông hiểu, trái ngược với những lưỡi gỗ trơ tráo, tẻ nhạt, nói lấy được của đồng nghiệp ở Bắc Kinh và Hà Nội.” Ông mới đến Hà Nội tháng 3-2008, đã nổi lên trong giới ngoại giao như một đại sứ năng động, thích văn hoá, ưa thể thao, mê nghiên cứu ẩm thực, đặc biệt rất ham đi những vùng sâu, vùng xa, nặng lòng cứu giúp những vùng nghèo, dân nghèo.Mới đây, khi ODA lớn bị ngừng, ông chuyển hướng, đích thân xông xáo đôn đốc hơn 30 dự án nhỏ bé, cò con, như dự án xây trường tiểu học xã Mường Khên tỉnh Hoà bình, như dự án giao thông nông thôn cho xã Hương Lâm tỉnh Bắc Giang, mỗi nơi gần 100 ngàn đôla, hoàn thành nhanh, gọn, cùng chính quyền sở tại kiểm soát kỹ, không bị xà xẻo …

Ấy vậy mà ông Dũng không những không tranh thủ ông đại sứ Nhật, lại còn trách móc, đến độ như xúc phạm ông một cách công khai, trước mặt các quan chức và nhà báo quốc tế, trước mặt cả các quan chức Nhật, khi ông vắng mặt.

Theo gợi ý của các bạn Nhật, tôi tìm lại bản tin VN Thông tấn xã ngày 10-2-2009, như sau: “Chiều 9-2, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp Đại sứ hữu nghị đặc biệt Nhật Bản-Việt Nam Sugi Ryotaro. Đại sứ Sugi vui mừng thông báo với thủ tướng việc Nhật Bản sẽ sớm khôi phục lại vốn ODA dành cho Việt Nam”. Ở đoạn cuối: “Thủ tướng cho rằng nếu chỉ vì nghi vấn (!) một cá nhân của Việt Nam trong vụ án tham nhũng liên quan đến vốn ODA mà Nhật Bản đơn phương chấm dứt viện trợ ODA cho Việt Nam là đáng tiếc (!)”.

Với Hoàng Thái tử Naruhito, ông Dũng còn đi xa hơn, mà mách rằng: “Việc phía Nhật đơn phương cắt ODA không bàn bạc trước, ngay giữa cuộc họp quốc tế lớn về đầu tư đầu tháng 12-2008 đã làm ảnh hưởng đến tình hữu nghị Nhật – Việt “.

Ông Dũng hẳn biết rõ – như ông đại sứ Sakaba nói với các báo ở Hà Nội từ đầu tháng 12- rằng việc ngừng ODA là theo lệnh trực tiếp từ thủ tướng Nhật đương nhiệm Taro Aso, đại sứ rất tán thành, vì nhiều nghị sỹ Nhật và dân đóng thuế Nhật bất bình sâu sắc về sự việc xảy ra. Tốt nhất là thủ tướng Việt Nam tỏ lời chân thành xin lỗi vì rõ ràng chính phủ Việt Nam có trách nhiệm trong quản lý vốn ODA. Không xin lỗi, lại còn trách cứ ngược lại thủ tướng và đại sứ Nhật, và đi nói riêng với với Hoàng thái tử Nhật và với đại sứ hữu nghị Nhật Bản, đổ lỗi cho phía Nhật đã gây nên ảnh hưởng xấu trong quan hệ Nhật – Việt! Thật quá đáng. Người đứng đầu chính phủ mà làm công tác đối ngoại kỳ cục, dại dột, không biết điều như vậy. Với các nhà báo Nhật, ông Dũng còn đi xa hơn, phàn nàn rằng: “đến nay Nhật Bản vẫn chưa cung cấp cho phía Việt Nam những chứng cứ của vụ việc…”(!)

Các nhà báo Nhật chỉ mỉm cười. Vì họ biết rõ, chính phía Nhật đã 6 lần gửi từng tập tài liệu hàng nghìn trang gồm: khẩu cung của cơ quan điều tra, lời khai viết của 4 bị cáo Nhật, băng ghi âm trước toà án, lời tả chi tiết về 4 lần giao tiền cho quan chức Việt Nam, lên đến 2 triệu 6 đôla, lại còn cử cán bộ điều tra, toà án và bộ tư pháp Nhật sang tận Việt Nam để trình bày thêm.

Họ biết rất rõ, bộ tư pháp Nhật đã yêu cầu phía Việt Nam trả lời cho 23 câu hỏi, chủ yếu nhất là:

- cho đến tháng 12-2008, các bị cáo Việt Nam đã nhận hay không nhận có ăn hối lộ của PCI, nếu nhận là bao nhiêu lần, lên đến bao nhiêu? Họ tẩu tán đi đâu? có những ai dính đến vụ án? họ khai và thú nhận những gì rồi?
- số tiền ấy được thương lượng ra sao, giữa 2 bên, do ai thương lượng, ngả ngũ ra sao? thủ đoạn giao nhận?
- số tiền ấy đã chia cho bao nhiêu người, những ai, chức vụ khi ấy làm gì? thu hồi lại được bao nhiêu?
- phía Việt Nam bao giờ xử kẻ bị cáo, và cần phía Nhật hợp tác thêm những gì? các ông đánh giá ông Huỳnh Ngọc Sỹ ra sao trong vụ ăn hối lộ này?

Hàng loạt câu hỏi ấy đặt ra gần 4 tháng nay, và vẫn còn chờ trả lời.

Các bạn nhà báo Nhật cho rằng phía Việt Nam đã có những việc làm tuy chậm nhưng đáng hoan nghênh. Đó là lập Uỷ ban hỗn hợp Nhật – Việt cùng nhau thảo thể lệ quản lý nghiêm vốn ODA, thanh tra chất lượng công trình, kiểm tra việc chi tiêu, lập thêm một cơ quan giám sát đấu thầu; bắt tạm giam 2 ông Huỳnh Ngọc Sỹ và Lê Qủa và hứa hẹn sẽ xét xử nghiêm minh vụ án này.

Báo Nhật cũng ghi nhận bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư Võ Hồng Phúc sang Nhật tháng 2-2009 đã thông báo chính phủ Việt Nam đã xếp vụ án ăn hối lộ của PCI là một vụ án trọng điểm, có nghĩa là sẽ được ưu tiên xét xử một cách công khai, minh bạch, đúng luật. Phía Nhật chờ từng ngày. Bao giờ?

Báo chí Việt Nam vẫn còn bị cấm ngặt không được nói đến vụ án PCI, không được tìm hiểu và đưa tin gì về vụ án đã thành trọng điểm này, cũng như phải quên vụ án PMU18 đi, dù nó đã kéo lê thê hơn 3 năm. Nhà báo chỉ được phép đưa những tin lạc quan, một chiều, rằng cuối tháng 3, hai chính phủ sẽ ký nghị định thư nối lại ODA đang mong chờ; rằng tháng 4, ông tổng bí thư Nông Đức Mạnh sẽ sang Tokyo giải quyết mọi vướng mắc cho thông suốt ở mức cao nhất với thủ tướng Taro Aso; khi ấy dòng chảy ODA có thể chảy vào thông suốt và dồi dào.

Nhưng vẫn còn một trở ngại. Một trở ngại không nhỏ chút nào. Hãy nghe ông Đại sứ Mitsuo Sakaba nói với phóng viên VietnamNet chiều ngày 10-3 “: Chúng tôi đang theo dõi rất chặt chẽ sự kiện xử lý vụ án ăn hối lộ của công ty Nhật PCI “. Ông nói thêm, vẫn với giọng rất nghiêm nghị: “Tôi đang chờ xem hành động xử lý cụ thể vụ án hối lộ này của phía Việt Nam”.

Ai nấy đều biết chính quyền Việt Nam đã đánh tráo, từ vụ án “ăn hối lộ của công ty PCI” Nhật thành ra một vụ án hoàn toàn khác là: “lấy nhà công cho công ty Nhật PCI thuê rồi chia tiền cho viên chức cơ quan”. Về tư pháp, đây là xét xử án “không đúng vụ việc”, “không đúng người”, “không đúng tội danh”. Đánh tráo vụ án ăn hối lộ lên đến 2 triệu 6 đôla bằng một vụ án hoàn toàn khác, với giá trị 1.200 triệu đồng, bằng 70.000 đôla, chỉ bằng 1 phần 37 vụ án thật.

Một chính phủ, có luật pháp hẳn hoi, có toà án, có viện kiểm sát, có thanh tra chính phủ, còn có cả một ủy ban đặc trách chống tham nhũng, trong một vụ án lớn có quốc tế tham gia theo dõi chặt chẽ, lại giở trò gian lận một cách trắng trợn và lộ liễu đến vậy. Mà vẫn cứ tỉnh bơ!

Phía Nhật đang mong chờ xử vụ án PCI đúng người, đúng tội, đúng luật. Họ sẽ rất chăm chũ theo dõi kỹ càng, chặt chẽ, như họ nói. Nếu như Việt Nam lờ đi, chưa xử, mua thời gian, để sau 4 tháng sẽ cho 2 bị cáo về nhà (họ chỉ bị “tạm giam” 4 tháng), hoặc xử qua loa chiếu lệ một vụ án nhỏ thay thế để làm phép, thì chắc hẳn vốn ODA sẽ vẫn còn bị treo lơ lửng. Ông Nông Đức Mạnh không thiếu lý do để nằm nhà.

Nghĩ cho cùng, nước thiếu vốn, xã hội thiếu đường, thiếu cầu, công nhân thiếu việc, nhưng các ông lớn còn có thiếu gì. Nhưng riêng ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì đang rất cần niềm tin, cần uy tín trong vụ này. Ông phải sửa chữa những vụng về hớ hênh của một người đứng đầu chính phủ. Uy tín ông đang xuống thấp. Năm ngoái ông Dũng đã sai lầm phát lệnh “không được xuất khẩu lúa gạo để làm dự trữ quốc gia, cân bằng lương thực”, làm nông dân Nam Bộ thiệt 1 tỷ đôla. Ông lại đang lao vào vụ Đắc Nông nguy khốn, tiến lui đều khó. Ông lại vừa liều tiên đoán “sang tháng 5 kinh tế Việt Nam sẽ khởi sắc”, làm cho báo The Economist Anh ngày 5-3 mới rồi kêu lên rằng thủ tướng Việt Nam bắt mạch kinh tế như một ông lang băm, rao bán dầu cù là! (nguyên văn: Nguyen Tan Dung, the prime minister, has predicted that the economy will start to pick up as early as May. As weeks go by, that makes him sound more like a seller of snake-oil than of snake-blood.

Trên cương vị Trưởng ban chống tham nhũng của chính phủ, ông Dũng hãy sắn tay áo đôn đốc việc xét xử vụ án trọng điểm PCI này, để từ trong ra ngoài nước đều thấy rõ ông là người “thật sự kiên quyết hành động chống tham nhũng”, như ông cam kết.

Nguồn ODA của Nhật có sớm được chắp nối lại hay không là tuỳ thuộc ở hành động của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, ở ý chí của bộ chính trị đảng Cộng sản trong chống tham nhũng, qua sự xét đoán tỉnh táo, công bằng sau đó của chính phủ Nhật, người giữ hầu bao ODA, luôn ưu ái đến sự chậm tiến và thiệt thòi của dân Việt Nam, luôn lo lắng đến một loạt dự án trọng điểm đang dở dang, lâm đại nạn.

======================================

CÙNG SUY NGẪM:

Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Không tham nhũng mới là lạ! Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống.

Ông Trần Quốc Thuận, phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam
16
Tháng 3
09

SOS Bảo Lâm: Thị trấn Bô Xít tại Lâm Đồng

SOS Bảo Lâm: Thị trấn Bô Xít tại Lâm Đồng

Lý Nam Bình
Ký sự đặc biệt cho Đài Chân Trời Mới

baolam01
Cửa ngỏ vào Bảo Lâm. Từ Bảo Lộc đi vào 15 cây số

baolam02
Bảng chỉ đường vào tổng hành dinh của Công ty khai thác Bô Xít tại Bảo Lâm

Theo quốc lộ 20, từ Sài Gòn về Đà Lạt đến Bảo Lộc ngay tại ngã 3 Lộc Sơn quẹo trái 15 cây số nữa sẽ đến thị trấn Bảo Lâm. Nơi đây là tổng hành dinh điều hành khai thác Bô Xít ở Lâm Đồng. Đến trung tâm thị trấn, ngay chỗ chợ Bảo Lâm, theo mũi tên chỉ dẫn quẹo trái vào 200m sẽ đến khu điều hành khai thác Bô Xít. Nơi đây bao gồm nhà ở của các chuyên gia Trung Quốc và các quan chức của tập Đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam. Còn mỏ Bô Xít thì cách đó chừng 5 km. Cả một vùng trên 100 mẫu đã được san bằng nằm giữa 3 khu vực: Thị trấn Lộc Thắng- xã Lộc Phú và xã B’Lá. Hai xã này đều thuộc huyện Bảo Lâm

Khác với sự dè dặt trên ĐăkNông, tại Bảo Lâm người ta thoải mái nói về Bô Xít hơn. Từ quốc lộ 20 có bảng chỉ dẫn đường vào vùng khai thác mỏ và nơi điều hành khai thác. Và an ninh cũng có phần lỏng lẻo hơn ĐăkNông nhiều.

baolam04
Những dãy nhà bên trong hàng rào là nơi ở của chuyên gia Trung Quốc

baolam05
Những dãy nhà ở của công nhân Trung Quốc

baolam06
Hai công nhân Trung Quốc trên đường từ khu vực mỏ bô xít đến chỗ hàng quán phục vụ

Người Trung Quốc bao gồm các chuyên gia và công nhân tràn ngập thị trấn Lộc Thắng. Các hàng quán phục vụ người Trung Quốc mọc lên rất nhiều bằng các bảng hiệu song ngữ Việt – Tàu. Theo một cán bộ phòng Lao Động thương binh tại thị xã Bảo Lộc thì hiện nay có khoảng 500 người Trung Quốc gồm các chuyên gia và công nhân đang phục vụ mỏ và cho biết khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ có hơn 6000 người Trung Quốc phục vụ tại đây.

Các chuyên gia Trung Quốc thì ở ngoài thị trấn Lộc Thắng trong khu cao cấp biệt lập nằm ven thị trấn trên một hồ nước thơ mộng. Cuối tuần khu này vắng vẻ do họ về Sài Gòn hay lên Đà Lạt ăn chơi. Họ đi lại bằng xe biển số xanh 49B do tỉnh Lâm Đồng cung cấp. Còn công nhân Trung Quốc thì ở ngay tại khu mỏ. Từ thị trấn Lộc Thắng đi 5 Cây số về hướng ĐăkNông đến ngã 3 Cát Quế, họ sống trong những ngôi nhà thấp lè tè lợp tôn màu xanh. Hiện có khoảng 8 dãy nhà dành cho công nhân ở. Chúng tôi gặp chị  Hương đang lo nấu ăn cho 1 dãy nhà gồm 45 công nhân Trung Quốc cho biết: ” Hiện có khoảng 300 công nhân Trung Quốc ở đây, mỗi dãy nhà họ thuê 2 người nấu ăn, lương mỗi người là 150 000 VND. Theo chị Hương thì cách ăn uống của công nhân Trung Quốc khác lạ, buổi sáng ăn cháo trắng với cá khô kho mặn và họ sống rất hà tiện. Họ giao  700 ngàn đồng (cỡ 40 Mỹ Kim) cho chị Hương bảo phải đi chợ nấu ăn cho 45 người. Không riêng gì nhóm chị Hương mà người nấu cho các nhóm khác đều kêu ca. Người dân thị trấn Lộc Thắng cho hay mỗi sáng sớm và chiều tối hàng tốp công nhân Trung Quốc kéo nhau đi dạo và vào các hàng quán. Một điều dễ nhận là họ mua cái gì cũng trả giá từ cục xà phòng, hộp kem dù giá bán lẻ in ngay ngoài vỏ hộp nhưng họ cũng trả thấp hơn một phân nữa.

baolam07
Những cửa hàng phục vụ chuyên gia và công nhân Trung Quốc tại Bảo Lâm

Anh Hoàng Văn Xướng, một công nhân lao động phổ thông, 20 tuổi ở ngay thị trấn Lộc Thắng cho hay hiện có rất nhiều người dân địa phương và người miền Bắc vào làm công nhân tại mỏ. Giá tiền công là 90 ngàn cho một ngày làm việc. Đó là công giá sau khi qua các tay cò trung gian, nếu làm trực tiếp cho các người thầu Trung Quốc thì giá được trả là 150 ngàn VND . Công việc chính của các công nhân Việt Nam là đào móng và các việc lặt vặt khác. Mỗi ngày có khoảng 300 người Việt nam làm việc nơi đây.

Anh Nguyễn Văn Quốc, 25 tuổi, người Đà Nẵng, kỹ sư tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng làm việc tại đây được 3 tháng cho biết anh đang làm việc chung với nhóm chuyên gia Trung Quốc và có 4,5 thông dịch viên. Công việc của anh là hướng dẫn công nhân Việt nam đào các móng. Mỗi trụ móng 1mét vuông nhưng chiều sâu đến 13,5 mét. Khu nhà máy rộng đến 60 hecta, chỉ làm đúng kích cỡ do các chuyên gia Trung Quốc chỉ dẫn, sau đó họ đem nhà máy của họ qua đây lắp vào các trụ móng đào sẵn. Anh Quốc cũng cho biết lương kỹ sư của anh là 6 triệu đồng 1 tháng thấp hơn lương công nhân Trung Quốc là 10 triệu đồng. Công nhân Trung Quốc họ đến từ các vùng miền núi, nông thôn không có học hành gì. Anh Quốc dẫn chúng tôi vào sâu trong vùng mỏ. Đi đâu cũng thấy bảng chỉ dẫn bằng 2 thứ tiếng: Việt- Hoa.

Một cán bộ làm việc tại văn phòng UBND huyện Bảo Lâm cho biết nhà máy đã khởi công gần 1 năm nay rồi, nhưng công tác đào tạo đã chuẩn bị trước đây 4 năm. Học Đại Học 4 năm thì học ở Trung Quốc, các sinh viên là con em địa phương, thi đại học Bách Khoa Sài Gòn hay Bách Khoa Đà Nẵng bị rớt mà trên 10 điểm cho 3 môn thì được gởi đi học 4 năm ở Trung Quốc. Toàn bộ chi phí do phía Trung Quốc đài thọ. Khóa đầu tiên hơn 50 em đã học được 3 năm rồi. Còn học hệ Cao Đẳng thì học tại Hải Phòng, công nhân học hệ Trung cấp thì học ở Bảo Lộc

Anh Nguyễn Tín, người dân thị trấn Lộc Thắng cho biết thêm, toàn bộ đợt đầu đi học là con của cán bộ huyện Bảo Lâm và thị xã Bảo Lộc, còn dân thường muốn gởi con đi học thì phải tốn 25 triệu đồng lo lót. Các đợt sau thì rẻ hơn chỉ 20 triệu thôi, anh cũng muốn gởi con anh đi học xuất ngoại cho biết nhưng con anh không chịu do sợ tốn kém gia đình.

Người dân Lộc Thắng thì đi đâu cũng bàn tán xôn xao về mỏ Bô Xít. Họ kể về những gia đình được nhận đền bù tiền giải tỏa để giao mặt bằng nhận trên 1 tỷ đồng nhưng ra thị trấn hay xuống thị xã mua nhà vẫn không đủ. Có người không chịu đi bị cưỡng chế, sau đó tiền đền bù mất hơn 400 triệu trừ vào chi phí cưỡng chế. Có người tiếc vườn cà phê, vườn chè quyết ôm cột nhà không đi bị xe múc vào múc bể đầu chết ngay tại chỗ mà còn bị kết tội là chống người thi hành công vụ. Cũng có nhiều người nhận ra là Bô Xít rất độc hại. Họ biết rõ là Trung Quốc đóng cửa các nhà máy Bô Xít của họ và qua đây khai thác Bô Xít của mình nhằm tránh độc hại cho dân họ, còn dân mình thì lãnh hết hậu quả.

baolam08
Đường vào công trường khai thác mỏ bô xít tại Bảo Lâm

baolam09
Công trường khai thác bô xít nhìn từ xa

baolam10
Công trường khai thác bô xít nhìn gần

Từ ngã 3 Cát Quế ngay tâm điểm vùng mỏ tại Bảo Lâm đi khoảng 40 cây số nữa sẽ đến mỏ Bô Xít ở ĐăkNông . Dọc đường chúng tôi bắt gặp nhiều người dân tộc Châu Mạ sống đói khổ trong những căn nhà sàn xập xệ rách nát. Họ vẫn hồn nhiên trên những nương chè ngút màu xanh. Mùa này chè tươi được mua với giá 1000 đồng cho 1 kí lô. Những thung lũng mát màu xanh của thông, chè, cà phê có nguy cơ bị hủy diệt lần này không phải bởi chất độc màu da cam mà bởi những bụi đỏ và bùn đỏ của Bô Xít.

Rồi đây 20 năm nữa vùng hạ lưu sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, và Hồ Trị An sẽ nhiễm độc và các cháu bé bại liệt, què quặt, ngây ngô chắc sẽ được công kênh qua Tàu để kiện Bắc Kinh chăng? Những người đang nhẫn tâm đặt bút ký đủ loại quyết định cho Trung Quốc vào khai thác Bô Xít tại Trung Nguyên liệu lúc đó có còn sống để thấy hậu quả việc họ làm không?

Lý Nam Bình
Tường trình từ Bảo Lâm- Lâm Đồng.
Ngày 8 tháng 3 năm 2009

=======================

THEO DÒNG SỰ KIỆN:

1. Thư của Thiếu tướng NguyễnTrọng Vĩnh, nguyên đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh 1974-1989

1. Khai thác bô xít là hủy diệt Tây Nguyên!

1. Tướng Giáp đề nghị dừng dự án bauxite

Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa gửi thư tới Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng đề nghị dừng triển khai dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên…. Link Ở ĐÂY

2. ‘Khai thác bauxite là chủ trương lớn’

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng nói việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là ‘chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước’, cho dù dự án này gặp phản đối từ nhiều phía…. LINK Ở ĐÂY

3.  SỨC ÉP CỦA TRUNG QUỐC VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA TỔNG BÍ THƯ  NÔNG ĐỨC MẠNH

4. Bôxit và Tây Nguyên

5. Thư Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

6. Triển vọng bô-xít Tây Nguyên – Tìm hiểu tại chỗ

7. Khai thác Bauxit ở Tây Nguyên: “Bom bùn” 20 triệu tấn bị đặt ngoài vòng kiểm soát

12
Tháng 3
09

Lần đầu làm chuyện “ấy”…

Lần đầu làm chuyện “ấy”…

Hôm qua là một ngày vô cùng trọng đại.

Đó là lần đầu tiên tôi làm chuyện “ấy”…

Mình chưa hề có tí kinh nghiệm gì trong chuyện này cả nên trong lòng cảm thấy hồi hộp và lo lắng… Nhưng mà nghe người ta bảo là làm chuyện này sung sướng lắm, hứng khởi lắm, sướng tê hết cả người nên mình cũng thấy hứng khởi, chỉ muốn lao đến làm chuyện đó ngay. Làm được chuyện “ấy” rồi mình sẽ chính thức trở thành người lớn!!!

Được những người lớn kể về chuyện họ làm chuyện ấy mà mình muốn tan thành một đống nước.

Mình đã chuẩn bị rất kỹ cho lần đầu tiên này vì sự kiện này thật quan trọng đối với cuộc đời mình.

Để đến được chốn hành sự thì tôi phải chuẩn bị cho tươm tất, thơm tho.

Tôi mặc underwear đen kiểu cổ điển có cách điệu với những họa tiết như hình mặt trời bên góc phải,hình mặt trăng bên góc trái và chính giữ bên dưới là hình chiếc lá tươi. Nó có chất liệu 100% cotton,nghe mọi người nói là chất liệu này co dãn và hút ẩm tốt. Tôi còn nhỏ, chưa đủ tuổi, đầu óc có mỗi một mẩu tri thức nên ko hiểu được bản chất của hai việc này có gì quan trọng đối với hoạt động của mỗi con người, có ai thông thái giải thích dùm cái.

Cái quần này cũng có sự tích của nó. Cái quần ko phải tui mua mà là của thằng Đỗ Anh bạn tôi tặng cho tôi,nhưng cũng không phải của thằng đó mua mà là một người bạn gái bình thường của nó tặng nó nhân dịp sinh nhật. Câu chuyện thì dài lắm nhưng có thể tóm tắt như sau:

- Cô gái tên là Hương định đi mua quà sinh nhật tặng cho bạn Đỗ Anh nhưng không biết mua gì nên rủ bà chị đi mua, tiện thể đi mua linh tinh các thứ sột soạt khác. Hai chị em đều quán triệt sâu sắc một phương châm là phải mua quà nào mà có ý nghĩa và tần số sử dụng cao, gần gũi với đời sống. Đã ko mua thì thôi,đã mua là ko mua mấy thứ đồ bày, chả dùng được mà chỉ để vứt lăn vứt lóc chả ra sao cả.

- Hai chị em tí tởn lên Vincom Plaza để mua. Đi vòng vèo, bàn thảo mãi ko biết mua gì, bỗng đi ngang qua cửa hàng đồ lót nam nữ Jbuzz thấy ngay hình một anh chàng to đùng đứng lổm ngổm treo trên tường nên nảy ra “sáng kiến”… Cô em bắt đầu hình dung ra hình ảnh anh Đỗ Anh trong đầu. Rồi đưa tay nắn bóp vào không khí để phác thảo ra dung lượng kích cỡ của đối tượng cho đến khi mang đến một quyết định chuẩn nhất cho vật phẩm cần mua. Sau đó Hương và cô chị vào cửa hàng và sờ soạng các sản phẩm để chọn mua.

Tối đi sinh nhật Đỗ Anh ở quán karaoke cô gái tên Hương tặng quà cho bạn Đỗ Anh kèm theo một nụ cười tựa nắng mai. Mọi chuyện chỉ giản đơn có thế cho đến khi ăn uống hát hò chán chê rồi, người yêu của Đỗ Anh bảo để em bóc quà xem mọi người tặng gì nhé. Mọi người đến dự cũng đồng ý với ý kiến đấy. Người yêu Đỗ Anh bóc quà ra, nào là dầu gội đầu, nào keo vuốt tóc, rồi đồng hồ… Thực ra quà tặng thì ai mà nhớ cái nào là của ai, nhưng cô gái tên Hương kia đến muộn lại đựng quà trong một cái túi nilon đen đầy khiêu khích nên người yêu Đỗ Anh nhớ. Cho nên đến khi mở cái quà đó ra người yêu Đỗ Anh nhận ra ngay: “Đây quà của ai nhỉ, à đúng rồi, của chị Hương”. Mở ra một cái hộp có hình một anh chàng mặc đúng một chiếc underwear trong một tư thế khiêu chiến và một chiếc quần lót có hình dáng như đã mô tả bên trên! Người yêu Đỗ Anh cười bí hiểm và nhìn Hương với ánh mắt đầy huyền bí: “Chị Hương tặng quà giống em”… Cô gái tên Hương vốn có bản tính xì tin, nhưng trước tình thế quà tặng xì tin của mình bị phơi trước bao nhiêu người – cô ấy cười giả lả rồi chuyển sang nói chuyện… kinh tế Việt Nam trong tương lai sau thời hội nhập WTO.

- Lúc sinh nhật xong xuôi, tôi về nhà Đỗ Anh chơi. Xem lại quà, nhiều quà quá, Đỗ Anh bảo cái quần kia cỡ đó nó hơi to nó ko mặc vừa, và còn đồng hồ tao cũng có nhiều rồi – mày thích cứ lấy. Tôi cũng có nhiều đồng hồ roài nên lấy cái quần.Theo đánh giá chủ quan của tôi thì cô gái tên Hương đã tưởng tượng quá lố kích cỡ và dung lượng của bạn Đỗ Anh nên chọn mua sản phẩm ko phù hợp với kích thước thật của đối tượng. Nếu bạn đó mua cho tôi thì vừa.

Bên trên là sự tích cái quần Jbuzz có mặt trăng,mặt trời và 1 chiếc lá tươi.

Tóm lại cái quần trông rất sang trọng, tôi coi đây như là biểu hiện của sự hào hứng và trân trọng với sự kiện lớn của đời sắp diễn ra …

Trở lại với sự chuẩn bị cho sự kiện lớn của đời tôi.

Phủ bên ngoài chiếc jbuzz đen là chiếc quần ngố thoáng mát cũng màu đen rách tua dua ngang đùi. Ý nghĩa của chiếc quần này là sự thể hiện một phần cá tính của tôi – sự giản dị từ phía bên ngoài.

Áo cũng là một phần khá quan trọng. Áo vẫn luôn đứng thứ hai về sự thu hút con mắt của mọi người, chỉ đứng sau cái quần. Điều đó là hiển nhiên và là quy luật muôn đời vì trong thực tiễn đời sống cái áo chỉ có chức năng che lấp những thứ quá giản dị so với cái quần.

Tôi mặc một chiếc áo pull có in hình đầu lâu xương chéo trước bụng, nó hoàn toàn ko có ý nghĩa gì đối với tôi cả nhưng có ý nghĩa sâu sắc với các cột điện cao thế trên toàn quốc.

Tôi vuốt keo romano và cũng xịt nước hoa lọai này luôn. Thật tình đa phần mọi người đều thích mùi romano nhưng tôi thì thích mùi keo Double Rich cơ, nhưng hôm nay làm chuyện “ấy” nên tôi muốn chiều theo số đông.

Tôi bắt đầu xuất phát để đi làm chuyện “ấy”.Trong túi tôi đã có sẵn một thứ vô cùng quan trọng để hoạt động “ấy” của tôi có thể diễn ra trôi chảy và toàn vẹn …

Diễn biến tâm lý của nhân vật “tôi” lúc ấy là sự trỗi dậy đa chiều của cảm xúc… Năm nay tôi đã 21 tuổi rồi mà chưa một lần được làm chuyện “ấy”…

Tôi cũng chưa rõ lắm sẽ phải làm chuyện “ấy” thế nào, phải đút đút gì đó ra sao hay có phải làm gì trước khi đút không…

Nếu làm ko đúng thì sao, ngại thật… Nhưng mà nghe mọi người nói cũng đơn giản thôi nên cũng có yên tâm phần nào… Rồi sẽ được sung sướng lắm, dù chưa rõ là sẽ sung sướng chỗ nào nhưng cũng thấy lòng trào dâng sự náo nức.

Và cuối cùng thì tôi cũng đã đến…

Và cuối cùng tôi đã đến nơi tôi sẽ được đút

Và cuối cùng tôi đã đến được nơi tôi sẽ được đút và trở thành người lớn

Sau một lúc khởi động và làm những thao tác căn bản để chuẩn bị làm người lớn…

Đối phương đã sẵn sàng ở đó chờ tôi đút.

Người tôi nóng ran, mồ hôi bắt đầu chảy lăn tăn trên từng thớ thịt trên khắp cơ thể, tôi cầm cái “ấy” và chuẩn bị đút.

Cái “ấy” của tôi chỉ còn cách lỗ 10 centimét… chỉ 10 centimét nữa thôi tôi sẽ thành người lớn…. Tôi nhắm mắt, nín thở, cầm cái “ấy” xông thẳng vào cái lỗ…

9 centimét ….

8 centimét……..

7 centimét…………

………………………

………………………….

3 centimét…..

2 centimét ……

1 centimét………

………….

Xoạpzzzz!!!

….

………………………..

Cái ấy của tôi đã nằm gọn trong lỗ…

Tôi nhắm mắt lại, một sự sung sướng trào dâng trên toàn cơ thể…

… Và tôi đã thành người lớn….

………

…………

…………..

Sướng!

………………………..

Tôi đút 1 cái, sướng tê người!

…. Rồi đút cái thứ 2, không thể kìm nổi sự sung sướng lại nữa!

… Đút cái thứ 3, xúc cảm trào đang tột đỉnh!

Vậy là tôi đã đút được những lá phiếu của mình vào lỗ của hòm bỏ phiếu… Tôi đi bỏ phiếu cho cả bố và mẹ tôi, tổng cộng đút 3 cái phiếu… Chà, cái cảm giác này thật là sung sướng quá, tôi đã hoàn thành được trách nhiệm và nghĩa vụ của một người công dân là đi bỏ phiếu bầu cử quốc hội.

Tôi cũng đã thành người lớn rồi các bạn ạ…

Đó là chuyện về ngày bầu cử quốc hội trong sáng và thánh thiện của Dany.

Ủa,các bạn làm sao vậy?

+++++++++++++++++++

Phụ lục (Cảm nghĩ thật sự về việc bầu cử ở nước ta):

- Chủ quan tôi nghĩ nếu mà ko cho cái kiểu một người có thể đi bầu cử cho cả nhà thì toàn quốc may ra được trên dưới 50% người dân đi bầu là cùng. Nơi tui bỏ phiếu ai cũng đi bầu hộ cả nhà.

- Em bầu người có đức có tài dựa vào phương pháp xem tướng vì mới chỉ được phát có một tờ giấy ghi qua loa về tiểu sử và chức vụ của họ,vì nó quá đơn sơ nên em bị đau đầu. Cuối cùng em bầu cho một anh còn trẻ có cái mũi cà chua theo tướng số là rất giầu, một bác gái có đôi mắt rất dịu dàng như nước hồ mùa thu và một bác trai có đôi lông mày rậm như em.

- Con số người đi bầu có lẽ cũng thể hiện sự tín nhiệm đối với Đảng và Nhà Nước. Các con số 98 hay 99% đều đẹp như mơ.

- Không nên bắt ép,chèn ép người ta đi bầu. Đọc trên vietnamnet thấy có những nơi sau khi đi bầu cử xong, công nhân phải đem thẻ cử tri đã được đóng dấu về nộp lại cho phòng tổ chức. Nếu ai không có thẻ hôm sau sẽ không được vào cổng làm việc và tất nhiên tháng đó sẽ không được xét bình bầu A, B, C cuối năm sẽ bị cắt thưởng.

Chuyện chưa đi bầu cử người ta gọi điện đến tận nhà yêu cầu đi hay… đọc hẳn tên trên loa phường là chuyện… bình thường. Ai dám gan to không đi? Thách kẹo!

- Em đã đi bầu rồi,và những lời bên trên là em thật thà phát biểu sau khi đúc rút từ thực tế thôi, có chỗ nào nông cạn hay có cái nhìn lệch lạc thì xin các bác công an blog thông cảm, xin đừng đàn áp em.

(Sưu tầm internet)




Số người đang online cùng bạn

Photobucket

AVATAR – http://number2.tk

Photobucket

Admin

Xin vui lòng liên hệ qua E-mail: hinhanhblog@gmail.com Thân ái! Numbertwo's blog
PhotobucketPhotobucket

Blog Stats

  • 516,010 lượt truy cập
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket

Đọc báo – Tin mới nhất trên các báo

RSS BBC – Việt Nam

RSS BBC – Diễn đàn

PhotobucketPhotobucket
Photobucket
Photobucket

RSS Làm đẹp

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Photobucket
Photobucket

RSS Văn hóa – NLĐ online

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Photobucket
Photobucket

RSS Thời trang – Sức trẻ VN

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Photobucket

RSS Nhịp sống @- Sức trẻ VN

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Photobucket

RSS Sống đẹp – Sức trẻ VN

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Photobucket

RSS Phim – Sức trẻ VN

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Yêu – Sức trẻ VN

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Photobucket

RSS Home – Kênh 14

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket