Lưu trữ của chuyên mục 'giáo dục'

11
Tháng 5
09

Lương tâm ở đâu?

Năm con học lớp 3, cô giáo kể cho cả lớp nghe một câu chuyện về cậu bé tên là Bin. Cậu bé mồ côi bố từ nhỏ, sống cùng mẹ trong một ngôi nhà lụp xụp. Một lần, mẹ cậu bị bệnh nặng.

Để có tiền mua thuốc cho mẹ, cậu bé đã ăn cắp của một người bạn thân 10 đồng xu. Vụ việc không được phát giác nhưng mỗi lần nhìn thấy bạn, Bin lại thấy xẩu hổ và áy náy.

Cô giáo bảo với cả lớp rằng: Bin đang bị lương tâm dày vò.

Lương tâm là gì? Nó nằm ở đâu trong cơ thể con người? Con đem băn khoăn đó về nhà và sà vào bếp hỏi mẹ. Mẹ kéo con lại gần vuốt mái tóc mềm mại của con bảo:

- Lương tâm không nằm cố định một chỗ, con gái ạ!

Câu trả lời khó hiểu đó vẫn cứ đeo bám lấy con. Cho đến một ngày, khi con cùng mẹ đi chơi công viên, con đang mê mải nhìn những quả bóng bay đủ màu sắc thì mẹ gọi con. Con đưa mắt nhìn theo tay mẹ chỉ và thấy một bạn nhỏ như con đang đỡ một em bé bị ngã đứng lên rồi còn cho em bé quả bóng đang cầm trong tay mình. Mẹ bảo:

- Lương tâm lúc này đang nằm trên đôi tay của bạn nhỏ ấy đấy con ạ!

Lần khác, hai mẹ con đi dạo, con nhìn thấy một người đàn ông mặt đỏ gay giơ chân đá mạnh vào một cún con đang chơi gần đó. Đau quá, cún con nằm vật ra đất còn người đàn ông cứ thế bước đi. Mẹ chạy đến đỡ cún con lên xoa lên lưng nó. Còn con nhìn theo người đàn ông kia đầy tức giận. Đợi cún con hết đau, mẹ thả nó xuống đất. Cún con vẫy đuôi chạy đi. Mẹ nắm tay con:

- Lương tâm lúc này nằm ở đôi chân của người đàn ông cục cằn ấy con ạ!

Hồi còn học lớp 8, trong giờ thể dục, có một bạn đang chạy thì bị ngất xỉu phải đưa lên phòng y tế. Nhìn thấy cô y tá cắm kim tiêm vào bắp tay bạn, nhỏ Hoa trào nước mắt rồi quay mặt đi khóc thút thít. Về nhà, con kể cho mẹ nghe. Mẹ nhìn con trìu mến: Lúc ấy lương tâm của bạn nằm ở đôi mắt và tiếng khóc.

Một buổi sáng chủ nhật, ngồi buồn con chợt nghĩ ra trò nhắn tin để trêu nhỏ bạn: Tớ ngồi học trên lầu, bố mẹ tớ không biết nên đã khoá cửa ngoài mất rồi. Tớ phải ra ngoài bây giờ. Cậu đến “cứu” tớ nhé!

Nhỏ bạn con tưởng thật vội vã đạp xe đến nhưng khi thấy con xuất hiện trước cổng, ôm bụng cười ngặt nghẽo thì nhỏ bạn con tức tưởi:

- Cậu độc ác vừa thôi.

Và con đã nhìn thấy cánh tay nhỏ bị xây xát. Hỏi ra mới biết vì vội đến cứu con mà nhỏ bị người ta tông xe ngã xuống đường. Cũng may, nhỏ chỉ bị thương nhẹ. Nhỏ đã nhận lời xin lỗi của con nhưng suốt mấy ngày đó, mỗi lần nghĩ đến con lại thấy day dứt trong lòng.

Bài học làm người đầu tiên mẹ dạy giản dị là thế nhưng bây giờ con mới hiểu.

Lương tâm nằm ngay trong mỗi ý nghĩ, hành động…của mỗi người mẹ nhỉ? Nó giúp cho mỗi người chúng ta sống tốt hơn trong cuộc đời phải không mẹ?

Bùi Thu Hoàn/Mực tím

16
Tháng 4
09

Thả “hoa hậu” bắt “người mẫu”

Thả “hoa hậu” bắt “người mẫu”

Chuyện kể rằng có một chú chó kiếm được miếng thịt to nhởn nhơ tha mồi chạy. Lúc chạy ngang qua cầu nhìn xuống, thấy hình bóng của miếng thịt phản chiếu dưới nước còn to hơn miếng thịt đang gặm trong miệng, chó ta lao ngay xuống nước. Kết quả miếng mồi mất và bóng cũng tan đi, chó đành trơ mõm không còn gì để ăn, dân gian gọi thế là thả mồi bắt bóng.

Nhiều đàn ông cũng hay thả hoa hậu để bắt người mẫu, “được voi còn đòi Hai Bà Trưng” kết quả là lắm mối tối nằm không. Dẫu biết vậy nhưng dường như lăng quăng là bản tính của đàn ông. Lăng quăng ở đây có nghĩa là đàn ông yêu hết cô này đến cô khác hoặc yêu nhiều cô cùng lúc, con rô cũng tiếc mà con giếc cũng muốn. Những đàn ông như thế dân gian gọi là trăng hoa nhưng tự đàn ông thì chỉ khiêm tốn nhận là mình có số đào hoa.

Đàn ông hay được giới thiệu kèm theo chữ hoa: nào là tặng hoa, hay ba hoa, hào hoa, đào hoa và thậm chí là trăng hoa. Trăng hoa dùng để chỉ đàn ông lẳng lơ, không có tình cảm lâu dài với ai, thay “đối tác”" như thay áo. Trăng hoa dùng để chỉ tính xấu của đàn ông còn đào hoa dùng để chỉ… may mắn của đàn ông. Đàn ông thường tự nhận là mình may mắn chứ không bao giờ cho mình có tính xấu.

Khoa học giải thích đào hoa là bản năng của đàn ông vì đàn ông như những người đi gieo hạt chỉ muốn gieo hạt được càng nhiều cành tốt (ảnh minh họa)

“Đàn ông càng đào hoa chị em càng thích còn đàn ông chung tình thì dễ thất tình”

Đào hoa là tên vì sao trong lá số tử vi chủ về tình ái. Khi nói người đàn ông nào có số đào hoa, nghĩa là người có được nhiều phụ nữ yêu mến. Tuy nhiên không phải đào hoa lúc nào cũng tốt, đào hoa không phải lo thiếu tình yêu, không phải lo đi chinh phục vì lúc nào cũng có vài ba lựa chọn nhưng nhiều đàn ông đào hoa vẫn đi sớm về khuya một mình vì không có lựa chọn nào ưng ý, không biết đâu là tình yêu đích thực.

Nhiều khi đàn ông đào hoa cũng muốn có một gia đình yên ấm nhưng sao khó quá vì dường như lòng đàn ông đào hoa đã trở nên chai sạn, không còn chỗ cho sự trân trọng phụ nữ và tình cảm của họ. Nhiều khi đàn ông hào hoa đã gặp được người toại lòng xứng ý nhưng dường như lại có gì đó thôi thúc khiến họ lại thả mồi bắt bóng.

Những người biết xem tử vi có thể phân biệt sao Đào hoa chiếu mệnh và sao Hồng loan chiếu mệnh. Đào hoa chiếu mệnh có nghĩa là ăn tạp, to bùi bé mềm, trẻ ăn gỏi già muối dưa như chang Don Juan. Hồng loan chiếu mệnh dược cho là sang hơn, là yêu có chọn lọc hơn, yêu có thơ văn đàn sáo như chàng Casanova.

Dân gian cho rằng dù “lăng quăng” kiểu gì cũng nên diệt trừ để tránh xuất huyết. Tuy nhiên đàn ông đào hoa tự biện minh rằng mình cũng cực khổ trăm bề bởi cây muốn lặng nhưng gió chẳng dừng. Nhiều khi đàn ông đào hoa cũng muốn đàn một dây, chùa Một cột, yêu một người nhưng đàn bà lại cứ lao vào.

Nhiều người cũng biết rằng đàn ông càng đào hoa chị em càng thích còn đàn ông chung tình thì dễ thất tình. Đàn ông đào hoa lại hay thương người, hay ngại từ chối, kết cục là ngày càng dấn sâu vào vũng bùn đào hoa không biết ngày nào có thể thoát ra.

Tuy nhiên đàn ông cũng cần pải hiểu rằng số đào hoa chỉ là điều kiện, là cơ hội Trời cho để đàn ông thu hút với nhiều mồi, nhiều bóng nhưng đàn ông phải chịu trách nhiệm với những vụ thả mồi, bắt bóng của mình chứ không thể đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho số phận. Đàn ông không thể cười hề hề để đổ tội cho cái số đào hoa và hay cả nể của mình và than thở rằng “Nếu mình mà là đàn bà không biết là đã chửa hoang bao nhiêu lần”.

Khoa học giải thích đào hoa là bản năng của đàn ông vì đàn ông như những người đi gieo hạt chỉ muốn gieo hạt được càng nhiều cành tốt. Chuyện dễ rung cảm trước những bóng hồng hầu như đàn ông nào cũng có, chỉ có điều đàn ông có dám bộc lộ sở thích của mình ra hay không thôi. Có nghiên cứu cho thấy một trăm đàn ông thì chín mươi chín đàn ông muốn tỏ ra mình đào hoa, muốn tỏ ra mình có sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi. Đàn ông vốn hay nổ mà số đào hoa là một hướng khả quan để đàn ông nổ.

Nhiều đàn ông kể chuyện có nhiều em sẵn sàng hết vì mình, có nhiều em hẹn hò mình đến tận kiếp sau. Thật ra đó là khi các em tuyên bố: “Phải yêu anh thì thà chết còn hơn” hay “Em không yêu anh đâu, đợi đến kiếp sau nhé”. Gặp trường hợp số đào hoa nổ này, cũng nên bao dung để đàn ông cảm thấy thoải mái và tự tin chứ đừng bóc mẽ đàn ông. Miếng mồi đang ngậm trong miệng mà giãy mạnh quá, đàn ông có khi phải thả để… bắt bóng.

Theo TS. Phan An

08
Tháng 4
09

Sự khác biệt của các thương nhân

Sự khác biệt của các thương nhân

Chuyện ở Trung Quốc

Tại cửa hàng bách hóa tổng hợp lớn tại 1 thành phố nọ ở Trung Quốc, nhân viên bán hàng sơ suất, đem giá 1.727 tệ của chiếc áo khóac viết nhầm thành 727 tệ. Chiếc áo sau khi bán đi, người bán hàng mới phát hiện ra lỗi của mình, anh ta đang tìm mọi cách xử lý thì lại tìm thấy người khách hàng mua chiếc áo đó, và muốn họ trả lại chiếc áo hay trả thêm chỗ tiền thiếu kia, nhưng bị khách hàng từ chối.

Người khách hàng đó đã xin luật sư tư vấn, hơn nữa còn được luật sư ủng hộ. Xem ra, sai lầm lần này rất có khả năng biến thành một vụ kiện. Kiện cáo thí khó mà tránh khỏi tranh chấp, bất luận được thua người khách hàng đó, bạn bè người thân và đồng nghiệp của anh ta sẽ hòai nghi cái cửa hàng đó và không bao giờ tới nữa.

Sự việc tương tự cũng xảy ra ở Mỹ

Một nữ sỹ Trung Quốc đến Mỹ du lịch, vào một cửa hàng nhạc cụ chọn đàn pianô, cuối cùng chọn được một chiếc chất lượng tốt giá cũng phải chăng. Bà ta gọi người bán hàng đến, nói sự lựa chọn của bà ta cho anh này. Người bán hàng vừa nhìn vào bảng báo giá trên cây đàn thì sửng sờ, anh ta xin lỗi vị nữ sĩ Trung Quốc này, mời bà ta chờ một chút, anh ta muốn thưa với giám đốc. Một lúc sau, giám đốc đi rất nhanh từ phía sau cửa hiệu ra, từ xa đã đưa tay ra bắt tay vị nữ sỹ đó, cười và nói: “Chúc mùng bà, bà đã tiêu một số tiền nhỏ nhất, mà mua được cây pianô tốt nhất!”

Thì ra cũng là sơ suất, đơn giá viết thiếu mộtchữ số “0″, nhưng giao dịch giữa chủ cửa hàng và khách hàng đã hòan tất suôn sẻ.

Qua một sự việc nhỏ như vậy, có thể thấy một chút phong độ, khí thái của thương nhân phương Tây. Thương nhân phương Tây và phương Đông giống nhau, đều muốn kiếm tiền. Tuy nhiên người quân tử muốn kiếm tiền thì kiếm bằng đạo lý. Trong chữ “đạo” này, danh dự uy tín là cái quan trọng nhất. Một lớp thương nhân hiện hay, không ít người chưa được tiếp nhận cái bí quyết rất hữu hiệu đó họ vẫn mơ 1 giấc mơ giàu nhanh chóng, cơ bản không có sự nhẫn nại và học cách xây dựng uy tín tốt, chỉ biết nhanh chóng kiếm chác bất chấp tất cả. Họ đến khắp các thị trường lớn nhỏ, đòi giá gắt gao, lừa lọc người khác, cả đến đe dọa bằng bạo lực.

Chỉ khi người tiêu dùng càng chín chắn, hiểu biết mới dạy cho họ bài học, buộc họ phải dần theo “đạo”.

Sưu tầm

05
Tháng 4
09

Đổi 20 triệu lấy cái gật đầu

Đổi 20 triệu lấy cái gật đầu

Tiêu mất 20 triệu cho em này. Quần áo, hoa, quà sinh nhật, ăn uống, thuê nhà nghỉ. Thế cũng đáng. Em này xinh. Lúc cưa lại nhàn. Cho là xong.

ZING_PORTAL_194127994

Ngày đầu tiên…

- My ơi, My..

Không thấy trả lời.

- Em Huyền à..

Vẫn không trả lời.

Tiến sát em PS lại gần em Attila. Nhìn thẳng vào mặt em, giọng thật tình cảm. “Em ơi, em có phải là Huyền không, hôm anh gặp ở sinh nhật Tuyết Mai ấy.”

- Không phải đâu anh.

- Ồ, thế anh nhầm à? Xin lỗi nhé. Thế tên em là gì nhỉ?

Liếc mắt một cái. Em ấy cười. “Em tên Trang”.

Ngày thứ 2…

Nhắn tin đến gần nửa đêm.

Anh học trường… – Anh nói được tiếng Anh, nhưng giờ lại đang đi học thêm tiếng Nhật… Anh thích tiếng Nhật hơn… Hình ảnh của em hôm nay làm anh không làm được việc gì… Anh không thể dối lòng, em đẹp lắm, Trang ạ.

Mấy câu này dùng chán chê mê mỏi đi rồi, nhưng các em vẫn chết.

Em này cũng có vẻ ngoan đấy. Nói gì cũng dạ vâng. Thế là tạm ổn. Để xem em “còn” không đã.

Ngày thứ 3…

Một hộp quà to bằng đúng cái thùng đựng tivi. Vừa mở nắp ra, một chùm bóng hồng bay lên, đúng lưng chừng dải lụa hồng ngang mắt em. “Em thiên thần của anh”.

qua thumb Đổi 20 triệu lấy cái gật đầu

Anh muốn ngày nào cũng được mang hạnh phúc đến cho em.

Em ôm lấy cổ luôn.

- Em cảm ơn anh lắm.

Công nhận em này đầy đặn. Nhưng hai tay vẫn phải đút túi quần. Từ từ đã.

Ngày thứ 4…

Anh phải đi đám cưới ông anh họ trong Sài Gòn, chắc 5 ngày sau mới về. Em giữ gìn sức khỏe nhé. Trời trở lạnh đấy.

Ngày thứ 5, thứ 6, thứ 7…

Đi chơi với em Phượng vậy. Cứ để em Trang đấy. Kiểu gì thuốc cũng ngấm. Em nhắn tin chỉ trả lời rất ngắn gọn, lạnh lùng.

Nhắn thằng đệ mua một túi hạt dẻ mang đến cho em, bảo anh Huy gửi.

“Trời lạnh mà không có anh. Em đừng buồn nhé. Hạt dẻ anh mua cho em có ngon không?”

Đọc tin nhắn ấy chắc chắn là phải nhớ mình điên lên. Không khóc mới là lạ.

Ngày thứ 8…

Tái xuất giang hồ hưởng thành quả.

hoahong thumb Đổi 20 triệu lấy cái gật đầu

Em à, anh về rồi. Em ra chỗ đài phun nước nhé. Anh muốn gặp em ngay lập tức.

Tất nhiên là em cũng có mặt ngay lập tức. Váy ngắn cực kì. Tặng một bó hồng kết trái tim, to oạch. Lần này thì em hôn luôn. Hôn lại ngay, tội gì.

Ngày thứ 9…

Dẫn em lên bar. Mấy thằng bảo vệ dắt xe nhìn từ xa đã xúm xít. Được, hôm nay anh dẫn bồ mới, cho chú 50K. Em chỉ uống coca – 100K. Đĩa hoa quả – 200K. Nhạc bốc thế, chả cần nói năng gì. Lần lần tay thám hiểm. Em ngồi im.

Ngày thứ 10…

Xong. Ngay trong phòng riêng của em. Nói với bố mẹ là anh đến dạy gia sư….

xau_blogtintuc2_thumb

Ngày thứ… bất tận

Đưa em đi sắm đồ hiệu. Đi ăn đồ Nhật, đồ Hàn. Xong tiện đâu vào đấy, nhà nghỉ cao cấp cũng được…Lại ngày đầu tiên…

Em Nhung của thằng Mạnh trông bốc lửa hơn. Em Trang hiền quá.

Trang ạ. Hình như anh không còn yêu em nữa.

Đổi sim.

Sinh nhật này kiểu gì mẹ cũng phải cho cái ô tô. Đứng ở cổng trường cấp 3, em nào chả chết.

tien thumb Đổi 20 triệu lấy cái gật đầu

Theo Tuần Việt Nam

(Nguồn Ý mới.com)

05
Tháng 4
09

Sát thủ tuổi học trò

Chỉ vì ánh mắt nhìn “không tròn trịa”, một cái va quẹt trên hành lang hay vài lời chọc ghẹo… nhiều học sinh đã dùng vũ lực, hung khí để tấn công bạn của mình.

t182967 thumb Sát thủ tuổi học trò

Bạo lực học đường đang diễn biến phức tạp (Trong ảnh: Nữ sinh “hỗn chiến” tại đường Hoàng Sa, P.17, Q.Bình Thạnh)

Đao kiếm nơi sân trường

Thời gian gần đây, liên tiếp các vụ án mạng xảy ra mà sát thủ là những học trò hồn nhiên trong màu áo trắng.

Hồi 10h30 ngày 27/3, tại khu vực ngoài trường THCS Hoàng Quế (xã Hoàng Quế, huyện Đông Triều, Quảng Ninh) đã xảy ra xô xát giữa Ngô Văn Trọng (học sinh lớp 9 trường THCS Hoàng Quế) với 2 học sinh lớp 8 cùng trường là Ngô Văn Sang và Nguyễn Xuân Biển.

Sau đó, Trọng đã gọi anh họ là Nguyễn Văn Tuấn, là học sinh lớp 10 trường THPT dân lập Trần Nhân Tông, thị trấn Mạo Khê đến đánh Sang và Biển. Bị Tuấn đánh đau, Biển đã dùng dao nhọn giấu trong người đâm Tuấn 1 nhát vào sườn phải và 1 nhát vào tim. Tuấn chết trên đường đi cấp cứu.

Tiếp đó, vào khoảng 15h15 phút, ngày 28/3, một vụ án mạng khác đã xảy ra tại trường THCS Công lập Tân Bình (số 873, Cách Mạng Tháng Tám, P.7, Q.Tân Bình, TP HCM) mà hung thủ và nạn nhân đều là học sinh của trường.

Sau khi học xong môn Vật Lý, học sinh khối 9 ra về, thì cũng là giờ ra chơi của học sinh khối chiều (trong đó có lớp 8). Nhưng trong lúc giải lao này, Lê Công Hoàng (13 tuổi), học sinh lớp 8 có mâu thuẫn và cự cãi với Phạm Quốc Minh (15 tuổi, học lớp 9). Ngay lập tức, Hoàng rút con dao thủ sẵn đâm vào Minh làm Minh chết ngay tại lớp học.

Thấy bạn cùng khối 9 bị đánh, Nguyễn Đăng Khương và Lê Huy Cường vào can ngăn thì cũng bị Hoàng “tặng” mỗi người vài nhát dao. Khương bị đâm ngay hông phải, Cường bị một vết thương ở tay và ở nách phải đưa vào cấp cứu tại bệnh viện Thống Nhất.

Mới đây, một vụ ẩu đả giữa 2 học sinh nữ khối 10 của trường THPT Hoàng Hoa Thám, quận Bình Thạnh, TP HCM xảy ra. Sau giờ tan trường, 2 “nữ tướng” này xông vào ăn thua đủ. Chuyện lọt đến tai người lớn, họ đứng ra bảo vệ cho con em mình và thế là người lớn cũng tham gia vào “hỗn chiến”. Hậu quả, 1 người đã tử vong còn 4 người khác đã bị công an quận Bình Thạnh bắt giữ xử lý về hành vi “giết người”.

Khó kiểm soát học sinh mang hung khí vào trường

Trở lại với vụ án mạng xảy ra tại trường THCS Công lập Tân Bình (TP HCM), trao đổi với PV, thầy Huỳnh Huyền – Hiệu trưởng trường PTCS Công lập Tân Bình cho biết: “Hoàng là học sinh mới chuyển từ tỉnh Bắc Giang về trường hồi đầu học kỳ 1. Hoàng học lực trung bình, tính tình khá trầm và ít giao lưu với bạn bè. Theo tôi, cả 4 em học sinh này đều là học sinh có học lực khá, trung bình và chưa từng bị vi phạm kỷ luật. Vụ việc xảy ra khá bất ngờ”. Thầy Huyền cũng thừa nhận rằng, đôi khi học sinh cũng hay ghẹo nhau vì giọng nói. Có thể, Hoàng nói giọng Bắc nên bị các bạn ghẹo gây cho em sự ức chế.

Thầy Đỗ Duy Bảo – phụ trách kỷ luật của trường cho biết: “Mỗi buổi học, nhà trường phân công 4 giám thị giám sát các em. Nhiều khi các em có xích mích nhỏ là bị nhắc nhỏ liền. Chúng tôi vẫn thường xuyên nhắc nhỏ các em, nhưng việc các em giấu hung khí mang vào lớp thì khó phát hiện được”.

PV đã trao đổi qua điện thoại với thầy Nguyễn Hoàng Nga – Phó Phòng GD-ĐT huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam về vấn đề bạo lực trong học đường. Thầy Nga cho rằng, học sinh ở những vùng quê, không có điều kiện tiếp xúc với internet, game, truyện tranh kiếm hiệp kích động. Các em nếu có mâu thuẫn thì cũng chỉ là dùng “hung khí” dép, hay viên phấn để ném vào nhau cho hả giận thôi. Tuy nhiên, khi ban cán sự lớp báo cáo với giáo viên, nhà trường sẽ lập biên bản cảnh cáo trước lớp, trước trường. Nếu mức độ nghiêm trọng thì sẽ mở hội đồng kỷ luật, thông báo đến gia đình…

Cần có sự tư vấn tâm lý nơi học đường

Thầy Nguyễn Hoàng Nga cho rằng, cần giáo dục đạo đức học sinh để các em có cơ sở hoàn thiện nhân cách con người. Nhà trường thường xuyên nhắc nhở cũng như răng đe nhằm ngăn chặn từ xa việc học sinh mang hung khí và gây gỗ trong, ngoài nhà trường. Những buổi chào cờ đầu tuần, những tiết giáo viên chủ nhiệm sinh hoạt lớp, thì vấn đề “dạy các em sự hoà nhã, thân thiện với bạn bè, chăm học” luôn được liên tục nhắc nhở.

Thật vậy, sau những sự cố bạo lực học đường xảy ra, phía nhà trường thì cho rằng quá bất ngờ và khó kiểm soát. Còn phía gia đình thì vẫn có suy nghĩ, giao con cho nhà trường là giao trọn niềm tin. Tuy nhiên, rất cần sự phối hợp đồng bộ, theo dõi, giám sát các em một cách thường xuyên giữa gia đình và nhà trường.

“Việc để xảy ra những vụ án thương tâm mà hung thủ là các em học sinh thì trách nhiệm đó không phải của riêng ai. Nhà trường, gia đình và toàn xã hội phải cùng có trách nhiệm trong sự nghiệp giáo dục trí thức, nhân cách đạo đức của các em” – một cán bộ chuyên trách phụ trách mảng trường học của Thành đoàn TP HCM cho biết.

Việc học sinh Hoàng đâm chết bạn học, có thể động cơ cũng vì bị chọc ghẹo giọng nói. Em là học sinh mới chuyển trường, nhiều lúc uất ức vì bị “xử ép”. Nên tạo ra cho Hoàng một ức chế rồi đến lúc nó bột phát bằng hành động nông nổi như trên. Ai cũng nghĩ học sinh này, học sinh nọ ngoan, hiền, chăm học. Nhưng đó là bề nổi. Tâm lý của một học sinh đôi lúc rất khó kiểm soát.

Mặt khác, trẻ em bây giờ thực sự đang thiếu một sân chơi lành mạnh. Học sinh ở thành thị có điều kiện tiếp xúc với game, phim ảnh, truyện bạo lực. Trong khi đó, bố mẹ của các em thì suốt ngày lao đầu vào công việc. Còn giáo viên đứng lớp chỉ bồi bổ cho các em kiền thức sách vở chứ chưa trang bị được kỹ năng sống.

Tiến sĩ Tâm lý học Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Cần phải có một hệ thống chuyên viên tư vấn tâm lý học đường. Các chuyên viên này sẽ giúp các em vượt qua mọi khó khăn, khúc mắc về tâm lý. Và có thể sớm phát hiện và giải toả những ức chế tâm lý dẫn đến những hành động nông nổi của các em. Nhưng hiện nay việc đầu tư chuyên viên tư vấn tâm lý học đường vẫn chưa được xã hội ta đầu tư đúng mức”.

Theo Dân Trí

(Nguồn Ymoi.com)

30
Tháng 3
09

Lãnh đạo giáo dục có dám thử mô hình Đại học “tự trị”?

Lãnh đạo giáo dục có dám thử mô hình Đại học “tự trị”?

21/03/2009 09:09 (GMT + 7)
(TuanVietNam)- Tổng tư lệnh của giáo dục phải là người dám nói với cấp trên: Vì cần người biết tư duy độc lập, nên phải thay đổi hoàn toàn phương pháp, phải cho trường học và người học “tự trị” – Ý kiến riêng của Nhà văn Nguyên Ngọc.

Nhìn từ kinh nghiệm thế giới

Lãnh đạo GD của ta, thường xuất thân từ các ngành khoa học tự nhiên, công nghệ, không mấy người xuất thân từ ngành khoa học xã hội. Không thể nói đó là cái dở, nhưng xét ở góc độ nào đó, đây là một trong những “thiên lệch”.

Nước Nga Xô-viết trước đây, hay nước Pháp, một số nhà lãnh đạo GD xuất thân từ các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật- công nghệ nhưng cũng đồng thời là những nhà văn hóa nổi tiếng. Ở nhiều nước khác, Bộ trưởng GD và ĐT ít khi chỉ đơn thuần là một nhà khoa học thuần túy.

Bản dự thảo Chiến lược phát triển GD 2009- 2020 mới công bố gần đây, nói như GS Hoàng Tụy, cho thấy một bước thụt lùi, thiếu tư duy cơ bản, không thay đổi được triết lý GD: Cái dở lớn nhất của GD ở ta nhiều năm nay là đào tạo những con người quen nghĩ bằng “cái đầu” của người khác, không được nói “ngược” với điều đã được coi là chân lý, con người chỉ mang tư tưởng tuân thủ, thiếu tư duy sáng tạo.

Một góc ĐH Harvard. Ảnh: oconnells.com

Vừa rồi, Bộ trưởng GD và ĐT Nguyễn Thiện Nhân có đi Phần Lan để tham khảo kinh nghiệm GD của họ. Không hiểu Bộ trưởng đã lĩnh hội như thế nào, còn theo tôi, Phần Lan có quan điểm về GD như ta quan niệm về thiền.

Tổng tư lệnh của giáo dục hiện nay phải là người nhận ra và dám nói với cấp trên: Lâu nay, ta quen đào tạo người chỉ biết tuân thủ, phương pháp GD nhồi nhét, một chiều, nay ta cần người biết tư duy độc lập, phải thay đổi hoàn toàn phương pháp, phải cho trường học và người học “tự trị”.

Phần Lan quan niệm về GD cũng tương tự một triết lý: Con người đầy tiềm năng, GD là khơi gợi tiềm năng ấy. Do vậy họ để cho người học được tự do tối đa, thậm chí có một số quy định rất lạ: Cấm mặc đồng phục, cấm cho bài tập về nhà, để trẻ con chơi tối đa…

Còn GD hiện nay của mình, chủ yếu là chương trình khép kín, cách dạy truyền thụ một chiều, giáo viên chỉ dạy cho người học những cái mình có, không có khả năng dạy cái người học cần. Đây là điều bức thiết nhất, tất yếu phải cải cách.

Giống như trong quân đội, không ai đòi hỏi một vị tướng phải bò hàng rào dây thép gai, mà cần một người biết thiết kế ra chiến lược, chiến thuật cho trận đánh. Tổng tư lệnh của giáo dục cũng phải là người nhận ra và dám nói với cấp trên.

Lâu nay, ta quen đào tạo người chỉ biết tuân thủ, phương pháp GD nhồi nhét, một chiều, nay ta cần người biết tư duy độc lập, phải thay đổi hoàn toàn phương pháp, phải cho trường học và người học “tự trị”.

Từ hướng đó mới tổ chức lại bộ máy cho phù hợp xu thế GD thế giới.

Hiệu trưởng không nên làm sự vụ

Hiệu trưởng các trường ĐH hiện nay cũng phải có tư duy về con đường phát triển của ĐH, và mục tiêu của trường ĐH là gì.

Hai năm trước, diễn văn nhậm chức của bà Hiệu trưởng ĐH Harvard được xem một chuẩn mực thế hiện tầm tư duy chiến lược cho ĐH.

“Bản chất của một trường ĐH là trách nhiệm độc nhất vô nhị của nó với quá khứ và tương lai, chứ không chỉ đơn giản với hiện tại. Một trường ĐH hoạt động không vì những kết quả của quý sắp tới, cũng không vì việc sinh viên tốt nghiệp sẽ trở thành người nào. Nó hoạt động vì những kiến thức sẽ định hình một đời người, những kiến thức truyền tải di sản của nhiều thiên niên kỷ, những kiến thức quyết định tương lai”.

Ở ta hiện nay, phần lớn hiệu trưởng các trường ĐH có thể tổ chức các sự vụ theo chủ trương rất giỏi, nhưng hiếm thấy người có tư duy đột phá và dám làm, tư duy “định hình một đời người” như thế nào.

Chẳng hạn, trong cơ cấu chương trình, có phần chương trình cứng của Bộ GD và ĐT quy định thì phải theo, nhưng các trường phải “tinh giản” hóa được bằng cách thuê giảng viên từ các học viện chuyên ngành. Ngoài ra, mở rộng các chương trình ngoại khóa: Âm nhạc, hội họa.. để tạo đời sống văn hóa cho các sinh viên, tạo không khí hướng nghiệp cho sinh viên bằng cách “chơi” với các doanh nghiệp…

Có nhiều cách, ăn thua là người có đầu óc làm cho các em biết chấp nhận cuộc sống, mà không bị “tha hóa”, tạo sự đồng thuận, đồng cảm với các thầy cô.

Do đó, chính đội ngũ các Hiệu trưởng phải là những người làm nên sự thay đổi. Nếu họ cùng tác động để thay đổi sự trì trệ của ngành GD, thì sẽ có chuyển biến.

Chỉ lấy một ví dụ đơn giản: Thực tế, nhiều sinh viên tốt nghiệp ĐH không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng. Nhưng chỉ cần qua một khóa đào tạo ngắn chừng sáu tháng do chính các doanh nghiệp đó thực hiện, các em lĩnh hội rất nhanh, thích ứng và biết cách xử lý một số vấn đề thực tiễn, biết làm việc.

Ví dụ trên cho thấy, lớp trẻ rất nhiều tiềm năng, nhưng hình như GD của ta đã không biết cách khơi dòng cho tiềm năng phát lộ.

Chính vì thế, người quản lý GD, trước tiên phải tháo bỏ được sự kìm hãm và tạo ra cơ hội. Vì thế bản thân các Hiệu trưởng cần có tư duy cơ bản, tư duy chiến lược ở cơ sở nơi họ quản lý chứ không phải đi làm sự vụ.

Không có “tự trị” ĐH thì không bao giờ có ĐH
Ảnh: books.google.com

Không có “tự trị” thì không bao giờ có ĐH

TP. HCM đã thí điểm thi tuyển lãnh đạo cấp trưởng phòng giáo dục. Tôi cũng không hy vọng nhiều vào sự đổi mới này, nhưng nên làm thử.

Ở Mỹ, các sinh viên được phát biểu ý kiến về các thầy, cô. Năm học sau phải có bao nhiêu sinh viên xin học thì thầy, cô đó mới được mời giảng. Trong số hơn ba nghìn trường ở đây, không ít trường trong diện “nhếch nhác”, chỉ có vài trăm trường vào loại tốt và được vài chục trường thuộc diện tốt nhất thế giới. Chỉ chứng đó, bức tranh ĐH đã sáng sủa rồi.

Bây giờ, ở ta muốn làm ĐH chất lượng cao thì nên thử nghiệm cho một số trường “tự trị” hoàn toàn. Có thể trong số 10 trường thử nghiệm thì có tới 6, 7 trường không ra gì, nhưng sẽ có một số trường làm tốt. Không nên cầu toàn phi thực tế vì Lý tưởng của ĐH là tạo ra con người “tự trị”, mà bản thân nó không “tự trị” được thì không thể nói tiếp điều gì.

Tôi có một kinh nghiệm là khi nào nghĩ về đất nước, dân tộc thì cũng nghĩ đến lớp trẻ. Mấy năm trước, tôi thường bi quan, sợ lớp trẻ hư hỏng, song gần đây, tiếp xúc với các em, tôi thấy một thực tế là chúng cứ ra khỏi trường thì vứt hết những thứ bị nhồi nhét, mà bắt tay ngay vào cuộc sống.  Tín hiệu đó khiến tôi lạc quan hơn.Tiếc rằng, ở một góc độ nào đó, GD hiện nay tập cho trẻ con nói dối, trong số đó tạo ra không nhỏ những người cơ hội.

Nếu biết cách GD, nhà trường chúng ta sẽ tạo ra cho các em “biến thành chính nó”.

  • Linh Thủy (ghi)
22
Feb
09

Hòn đá cuội

Hòn đá cuội

Một người bạn gửi cho tôi một số bài viết của các tác giả là người nước ngoài. Xin gửi lại để  tham khảo.

—————————

Palestine có hai biển hồ. Biển hồ thứ nhất gọi là biển Chết. Đúng như tên gọi, không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanh biển hồ này. Nước trong hồ không có một loại cá nào có thể sống nổi mà người uống phải cũng bị bệnh. Người dân trong vùng không muốn sống gần đó. Biển hồ thứ hai là Galilê. Đây là biển hồ thu hút nhiều khách du lịch nhất. Nước ở biển hồ lúc nào cũng trong xanh mát rượi, con người có thể uống được mà cá cũng sống được. Nhà cửa được xây cất rất nhiều ở nơi đây. Vườn cây xung quanh tốt tươi nhờ nguồn nước này…

Nhưng điều kỳ lạ là cả hai biển hồ này đều được đón nhận nguồn nước từ sông Jordan. Nước sông Jordan chảy vào biển Chết. Biển Chết đón nhận và giữ lại riêng cho mình mà không chia sẻ nên nước trong biển Chết trở nên mặn chát. Biển hồ Galilê cũng đón nhận nguồn nước từ sông Jordan rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy nước trong biển hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muông thú và con người.

Một định lý trong cuộc sống mà ai cũng đồng tình: một ánh lửa chia sẻ là một ánh lửa lan tỏa. Một đồng tiền kinh doanh là một đồng tiền sinh lợi. Đôi môi có hé mở mới thu nhận được nụ cười. Bàn tay có mở rộng trao ban, tâm hồn mới tràn ngập vui sướng.

Khí hậu sa mạc rất đặc thù. Bức xạ, cát gió, ánh mặt trời thiêu đốt và sự tích lũy nhiệt lượng có thể thiêu sống con người; ban đêm, cái giá lạnh lan tràn của hoang mạc có thể làm đông cứng cơ thể.

Cho dù khí hậu sa mạc đáng sợ như vậy, nhưng người Indian ở châu Mỹ vẫn sống dễ chịu, vì kiến trúc của họ có công dụng hóa giải sự khắc nghiệt.

Trong sa mạc, bức tường nhà của người Indian có thiết kế đặc biệt, độ dày của nó rất vừa mức; ánh mặt trời nóng bức ban ngày không chiếu xuyên qua được bức tường dày, đến khi sức nóng đã thấu vào nhà thì buổi tối cũng vừa đến, bức tường được sấy nóng dần dần tỏa nhiệt lượng tích tồn ban ngày, khiến trong nhà trở nên ấm áp.

Nếu bức tường đó mỏng đi một chút, thì ban ngày nhà sẽ biến thành cái lò nướng, ban đêm cũng sẽ không thể phát đủ nhiệt lượng.

Nếu bức tường đó dày hơn một chút, ban ngày cố nhiên trong nhà sẽ không nóng, nhưng vì sức nóng không thấu được vào nhà, nên ban đêm trong nhà sẽ trở nên lạnh lẽo.

Tất cả đều kỳ diệu nằm ở chỗ bức tường nhà không dày quá và không mỏng quá.

Bất kể có sống ở sa mạc hay không, mỗi người chúng ta đều phải có một bức tường như vậy. Giữ lại những lời ca ngợi của người khác khi đắc ý để dùng vào lúc không như ý; đón lấy mũi tên kẻ thù bắn tới làm vũ khí khi vũ khí của chúng ta thiếu hụt; biến những lời công kích của đối phương thành những kiến nghị hữu dụng; giữ lại tiền bạc của cải dư thừa cho những ngày khốn khó có thể có sau này – giống như người Indian giữ lại nhiệt lượng quá dư thừa ban ngày cho ban đêm lạnh giá.

Leonardo da Vinci vẽ bức “Bữa ăn chiều cuối cùng” (The last supper) mất bảy năm liền. Đó là bức tranh vẽ Chúa Jesus và mười hai vị tông đồ trong bữa ăn cuối cùng trước khi Chúa bị Judas phản bội.

Leonardo tìm người mẫu rất công phu. Giữa hàng ngàn thanh niên, ông chọn được một chàng trai 19 tuổi có gương mặt thánh thiện, một nhân cách tinh khiết tuyệt đối để làm mẫu vẽ Chúa Jesus. Da Vinci làm việc không mệt mỏi suốt sáu tháng trước chàng trai, và hình ảnh Chúa Jesus được hiện trên bức vẽ.

Sáu năm tiếp theo ông lần lượt vẽ xong 12 vị tông đồ, chỉ còn có Judas, vị môn đồ đã phản bội Chúa vì 30 đồng bạc, tương đương 16,96 đô la Mỹ.

Hoạ sĩ muốn tìm một người đàn ông có khuôn mặt hằn lên sự hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ tàn ác. Khuôn mặt đó phải toát lên tính cách của kẻ sẵn sàng bán đứng người bạn thân nhất, người thầy kính yêu nhất của chính mình… Cuộc tìm kiếm dường như vô vọng. Bao nhiêu gương mặt xấu xa nhất, độc ác nhất, Vinci đều thấy rằng chưa đủ để bộ lộ cái ác của Judas. Một hôm, Vinci được thông báo rằng có một kẻ mà ngoại hình có thể đáp ứng được yêu cầu của ông. Hắn đang ở trong một hầm ngục ở Roma, bị kết án tử hình vì giết người và phạm rất nhiều tội ác tày trời khác.

Da Vinci lập tức lên đường đến Roma. Trước mắt ông là một gã đàn ông nước da đen sậm với mái tóc dài bẩn thỉu phủ xoà xuống mặt, một khuôn mặt xấu xa, độc ác tự nó nói lên nhân cách của một kẻ hoàn toàn bị tha hoá. Đúng, đây là Judas!  Được sự cho phép đặc biệt của Đức Vua, người tù được đưa tới Milan nơi bức tranh đang được vẽ dở. Mỗi ngày, tên tù im lặng ngồi trước Da Vinci và hoạ sĩ thiên tài cần mẫn với công viêc truyền tải vào bức tranh diện mạo của kẻ phản phúc.

Khi nét vẽ cuối cùng hoàn thành, kiệt sức vì phải đối mặt với cái ác một thời gian dài, Vinci quay sang bảo lính gác “Các ngươi đem hắn đi đi…”. Lính canh túm lấy kẻ tử tù, nhưng hắn đột nhiên vùng ra và lao đến quì xuống bên chân Da Vanci, khóc nấc lên: “Ôi, ngài Da Vinci! Hãy nhìn con! Ngài không nhận ra con ư?”

Da Vinci quan sát kẻ mà suốt sáu tháng qua ông đã liên tục nhìn mặt. Cuối cùng ông đáp: “Không, ta chưa từng nhìn thấy ngươi cho đến khi ngươi được đưa đến cho ta từ hầm ngục ở Roma…”. Tên tử tù kêu lên “Ngài Vinci… Hãy nhìn kỹ lại tôi! Tôi chính là người mà bảy năm trước ông đã chọn làm mẫu để vẽ Chúa Jesus…”

Câu chuyện này có thật, như bức tranh “Bữa ăn chiều cuối cùng” là có thật. Chàng trai đã từng được chọn làm hình mẫu của Chúa Jesus chỉ sau hơn hai ngàn ngày, đã tự biến mình thành hình tượng hoàn hảo của kẻ phản bội ghê gớm nhất trong lịch sử.

Ranh giới giữa cái thiện và cái ác rất mong manh. Mỗi người phải luôn cảnh giác với chính mình. Tương lai không hề do ông Trời định trước.  Chính chúng ta là người quyết định số phận của mình.

Có một anh chàng họa sĩ từ lâu ôm ấp ước mơ để lại cho hậu thế một tuyệt tác. Và rồi một ngày kia chàng bắt tay vào việc. Ðể tránh sự ồn ào náo nhiệt của cuộc sống thường nhật, chàng dựng một khung vẽ rộng 30 mét vuông trên sân thượng một tòa nhà cao tầng lộng gió. Người họa sĩ làm việc miệt mài suốt nửa năm. Chàng say mê bức họa tới mức quên ăn quên ngủ. Khi bức tranh hoàn thành, nó sẽ đưa tên tuổi của chàng sống mãi với thời gian.

Một buổi sáng nọ, như thường lệ, chàng họa sĩ tiếp tục hoàn chỉnh những nét cọ trước sự trầm trồ của hàng chục du khách tham quan. Tuy nhiên sự có mặt của đám đông không hề ảnh hưởng tới họa sĩ . Chìm đắm trong cơn say mê điên dại, chàng ngây người nhìn ngắm thành quả lao động sáng tạo của mình . Cứ thế, chàng từ từ lùi ra xa để chiêm ngưỡng bức tranh mà không biết rằng mình đang tiến tới mép sân thượng. Trong số hàng chục người khách tham quan đang bị bức tranh hút hồn, chỉ có vài người phát hiện ra mối nguy hiểm đang chờ đón người họa sĩ: chỉ lùi một bước nữa là chàng sẽ rơi tõm xuống khoảng trống mênh mông cao cả trăm mét. Tuy nhiên, không ai có can đảm lên tiếng vì biết rằng một lời cảnh báo có thể sẽ khiến người họa sĩ giật mình ngã xuống vực thẳm.

Một sự im lặng khủng khiếp ngự trị trong không gian. Bất chợt một người đàn ông tiến tới giá vẽ. Ông ta chộp lấy một cây cọ nhúng nó vào hộp màu và bôi nguệch ngoạc lên bức tranh. Một sự hoàn mỹ tuyệt vời đã bị phá hủy. Người họa sĩ nổi giận, anh ta gầm lên đùng đùng lao tới bức vẽ, giật cây cọ từ tay người đàn ông nọ. Chưa hả giận, người họa sĩ vung tay định đập cho người đàn ông nọ một trận. Tuy nhiên, hàng chục người xung quanh cũng đã kịp lao tới, giữ lấy người hoạ sĩ và giải thích cho anh ta hiểu tình thế. Rồi một vị cao niên tóc bạc phơ đến bên chàng họa sĩ và nhẹ nhàng nói: “Trong cuộc đời, chúng ta thường mải mê phác ra những bức tranh về tương lai. Tuy rằng bức tranh đó có thể rất đẹp, rất quyến rũ nhưng chính sự quyến rũ, mê hoặc về những điều sắp tới đó thường khiến chúng ta không để ý tới những mối hiểm họa gần kề, thậm chí là ngay dưới chân mình”.

Vậy nên, nếu như có ai đó bôi bẩn, làm hỏng bức tranh về tương lai mà ta dày công tô vẽ, xin bạn chớ nóng vội mà oán giận. Trước tiên hãy xem lại hoàn cảnh thực tại của chính mình. Biết đâu một vực thẳm đang há miệng chờ đón ngay dưới chân bạn. Và người mà chúng ta nghĩ đã làm vướng chân ta lại có thể chính là người cứu mình thoát chết.

Trong một buổi nói chuyện với một nhóm các doanh nhân, một chuyên gia trình bày về cách sử dụng thời gian có hiệu quả. Đứng trước những người khá thành đạt trong cuộc sống, ông mỉm cười: “Sau đây là một câu hỏi trắc nghiệm”. Ông ta lấy từ gầm bàn một cái lọ rộng miệng cỡ 4 lít và một cái túi chứa những hòn đá cuội to bằng nắm tay. Ông lần lượt đặt từng hòn đá vào lọ cho đến khi không bỏ vào được nữa. “Cái lọ đã đầy chưa?” – ông hỏi.

“Đầy rồi” – mọi người đáp. “Thật không?” – ông hỏi và lấy từ gầm bàn ra một túi sỏi nhỏ đổ từ từ vào lọ và lắc cho các hòn sỏi chen vào tất cả các khoảng trống giữa các hòn đá cuội. Ông nhoẻn miệng cười và hỏi: “Cái lọ đầy chưa?”

Lần này thì mọi người dường như bắt kịp ông. Ai đó trả lời: “Chắc là chưa”.

“Tốt!” – ông nói và lấy ra một túi cát đổ vào lọ. Cát chen đầy vào các khoảng trống giữa những hòn đá cuội và hòn sỏi. Một lần nữa, ông hỏi: “Cái lọ đầy chưa?”

“Chưa” – mọi người nhao nhao. “Tốt” – ông lặp lại và vớ lấy bình nước đổ vào lọ cho đến khi nước ngập đến miệng lọ. Ông ngước nhìn mọi người và hỏi: “Minh họa này nói lên điều gì?”.

Một nhà kinh doanh nhanh nhẩu đáp: “Vấn đề là cho dù kế hoạch làm việc của bạn có sít sao thế nào đi nữa, nếu cố gắng bạn luôn có thể làm thêm nhiều việc nữa!”

“Không phải” – ông đáp – “Đó không phải là vấn đề. Điều mà minh họa vừa rồi nói lên là nếu bạn không đặt những hòn đá cuội vào lọ trước, bạn sẽ không bao giờ còn có thể nhét chúng vào được nữa”.

Cái gì là những “hòn đá cuội” trong cuộc sống của bạn? Có thể là một dự án, một hoài bão mà bạn muốn thực hiện, thời gian với những người mà bạn thương yêu, học vấn của bạn, sức khỏe của bạn. Nhưng nhớ đặt những “hòn đá cuội” đó vào lọ trước hoặc bạn sẽ không bao giờ nhét chúng vào được. Chúng ta luôn cố gắng làm thật nhiều việc trong khoảng thời gian giới hạn của mình. Nhưng điều quan trọng là những việc mà bạn đang làm có thật sự có ý nghĩa?

Thế thì tối nay hay sáng mai khi bạn suy ngẫm về câu chuyện này, hãy tự hỏi chính bản thân mình rằng điều gì là những “hòn đá cuội” trong cuộc sống của chính bạn và hãy đặt chúng vào trong lọ trước.

(Sưu tầm)

14
Feb
09

Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi: Nhầm lẫn và bất ổn

Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi: Nhầm lẫn và bất ổn

Cách chỉ đạo “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” của Bộ GD-ĐT đã mâu thuẫn với mục đích của “Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”. Đó là điều rất bất ổn trong năng lực quản lý và điều hành GD.

Đánh giá trẻ không phải là mục đích của chuẩn phát triển và của bậc học mầm non. Ảnh: baoninhbinh.org.vn

Những ngày qua, dư luận như phát “sốt” trước những thông tin về tiêu chí đánh giá trẻ 5 tuổi, khiến “nồng độ” quan tâm đến giáo dục trong xã hội vốn đã đậm đặc, nay càng “đậm đặc” hơn. Không ít những bối rối, lo lắng, bất bình. Thực hư ra sao xung quanh vấn đề này. Và bản chất của chuẩn phát triển nhằm mục đích gì?

Nhầm lẫn tai hại: Coi là chuẩn đánh giá!

Hầu hết những ý kiến phản biện, từ các bậc cha mẹ, đến giáo viên, hiệu trưởng trường mầm non đều lo ngại về các tiêu chí đánh giá trẻ (mang tính định lượng, hoặc định tính) ở các góc độ: Thể chất; Tình cảm và quan hệ xã hội; Ngôn ngữ và giao tiếp; Nhận thức và khám phá. Đây cũng chính là bốn lĩnh vực chính của sự phát triển, làm nên dự thảo “Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”.

Tuy nhiên, theo giới chuyên gia, đã có một sự nhầm lẫn cơ bản và tai hại trong nhận thức và sự phản biện của các giáo viên, hiệu trưởng mầm non, các bậc cha mẹ…về dự thảo này. Chuẩn phát triển, như tên gọi của nó, về bản chất, không phải là chuẩn đánh giá, như cách phản biện của xã hội, cho dù, có sự liên quan chặt chẽ đến nhau.

Về khái niệm học thuật: “Phát triển là vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên”. Từ đó, có thể thấy: “Chuẩn phát triển là sự trình bày về những điều mong đợi trẻ cần phải biết và có thể làm được”. Trong khi đó “Đánh giá là xem xét, nhận xét, bình phẩm về giá trị”, từ đó có thể thấy: “Chuẩn đánh giá là sự định ra những tiêu chí nhằm đánh giá con người đạt hay không đạt theo yêu cầu đã đề ra”.

Chuẩn phát triển mang ý nghĩa mong muốn, để từ đó đặt ra cho người giáo dục (giáo viên, các bậc cha mẹ) có sự can thiệp, chăm sóc về dinh dưỡng, nhận thức, ngôn ngữ, khí chất…của trẻ. Chuẩn phát triển có thể giúp xây dựng, làm căn cứ xây dựng nội dung đánh giá nhưng không thể thay thế cho hệ thống đánh giá, như một công cụ đánh giá có giá trị, có thể tin cậy về mặt kỹ thuật.

Từ sự khác biệt về bản chất của hai khái niệm, hai nội dung, theo dự thảo, việc áp dụng “Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” nhằm những mục đích cơ bản sau: 1) Cải thiện phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ của giáo viên. 2) Đánh giá tính hiệu quả của chương trình giáo dục mầm non. Sử dụng chuẩn phát triển là cơ sở xây dựng bộ công cụ đánh giá sự phát triển của trẻ. Từ đó, đưa ra kết luận về tính hiệu quả của chương trình. 3) Cải thiện kỹ năng và hành vi, phương pháp giáo dục của các bậc cha mẹ. 4) Cải thiện công tác đào tạo giáo viên (Chuẩn có thể được dùng để định hướng việc phát triển nội dung chương trình đào tạo giáo viên). 5) Nâng cao kiến thức cộng đồng về sự phát triển của trẻ em. 6) Giám sát sự phát triển của trẻ em trên phạm vi quốc gia.

Như vậy, có thể coi, đối tượng chính của chuẩn phát triển chính là người giáo dục, chăm sóc trẻ (giáo viên, các bậc cha mẹ học sinh).

Với những mục đích này, “Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” không dùng để xếp loại trẻ, hoặc là một công cụ đánh giá. Trẻ 5 tuổi chỉ là thành viên, tham gia vào “đo đếm” thông qua các chỉ số của bốn lĩnh vực nói trên. Kết quả đo đếm (đánh giá) chỉ là điều kiện để người giáo dục (giáo viên, cha mẹ) có sự can thiệp về dinh dưỡng, chăm sóc trẻ. Đánh giá trẻ không phải là mục đích của chuẩn phát triển và của bậc học mầm non. Khái niệm đánh giá trẻ chỉ bắt đầu từ bậc tiểu học, nhưng cũng phải rất nhẹ nhàng, với các tiêu chí phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi này.

Việc xây dựng chuẩn phát triển trong GD thực chất không phải vấn đề gì mới. Ngay ở một nước đang phát triển như Philipin, từ năm 1995, người ta đã xây dựng chuẩn phát triển cho trẻ mầm non. Còn ở nước phát triển như  Mỹ, mỗi bang của Mỹ lại có chuẩn phát triển khác nhau.

Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi của GD nước ta mới bắt đầu được xây dựng từ năm 2005, với sự giúp đỡ của các chuyên gia từ Mỹ, Hồng Kông, Singapore, đặc biệt là sự giúp đỡ của tổ chức UNICEF.

Tháng 5/2008 mới đây, ngành GD và ĐT tiến hành đánh giá tính xác thực của chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi thông qua việc “đo thử nghiệm” ở 700 trẻ em thuộc 7 tỉnh, thành phố các vùng miền khác nhau: Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Hải Dương, Thanh Hóa, Cần Thơ, Lào Cai và Gia Lai. Riêng Lào Cai, Gia Lai, mỗi tỉnh chọn 25 em học sinh dân tộc thiểu số. Cách đo thử nghiệm không có sự báo trước cho các cơ sở GD, chọn các trường mầm non bình thường, để bảo đảm tính phổ biến và kết quả khách quan.

Các tiêu chí tuy bao quát khá đầy đủ nhưng lại mất cân đối. Ảnh: Sức khỏe.

Hợp lý và bất hợp lý

Xem xét toàn diện, “Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”, dưới con mắt của các chuyên gia GD, dự thảo này có những sự hợp lý và bất hợp lý cần điều chỉnh, cấu trúc lại cho phù hợp. Theo Phó GS, Tiến sĩ Nguyễn Công Khanh (Trường ĐH Sư phạm Hà Nội), bộ khung của chuẩn với các tiêu chí cơ bản đã  bao quát khá đầy đủ sự phát triển của trẻ, cách xác định chuẩn là hợp lý. Chuẩn phát triển tham khảo được khá nhiều bộ chuẩn của các nước.

Nhưng những bất hợp lý của bộ chuẩn cũng nhiều. Đó là quá nhiều chỉ số (125 chỉ số), cần rút gọn lại, vì các chỉ số càng chi tiết càng cứng nhắc, sẽ khó đánh giá, lại gây hoang mang cho các bậc cha mẹ.

Các tiêu chí tuy bao quát khá đầy đủ nhưng lại mất cân đối. Có tiêu chí chỉ hai chỉ số, có tiêu chí lại tới 7 chỉ số (gấp 3,5 lần) dẫn đến khi quy đổi điểm để lượng hóa, kết quả đánh giá có thể cao, nhưng thực chất, chất lượng của lĩnh vực đo đếm thấp, giáo viên rất khó nhận biết chính xác điểm yếu của trẻ để can thiệp, chăm sóc.

Một số chỉ số quá dễ, không nên đưa vào (ví như chửi bậy), bên cạnh các chỉ số lĩnh vực thể chất lại quá cứng, không hợp lý, nên có sự trao đổi rộng rãi với các chuyên gia để viết lại. Ngược lại, có những chỉ số về thể chất rất cần thiết (chiều cao, cân nặng…) lại không được đưa vào, cũng cần được điều chỉnh, bổ sung. Còn Thạc sĩ Hồ Đắc Hải Miên (Viện nghiên cứu GD) lại lưu ý các tác giả dự án một số điểm không hợp lý. Đó là chồng chéo tiêu chuẩn; chỉ số không rõ ràng; độ khó giữa các chỉ số không hợp lý hoặc thừa chỉ số…

Giáo dục- liệu có luôn chứa đầy sự bất ổn?

Đã qua rồi cái thời một ông thầy đồ với vài ba đứa trẻ cũng làm nên giáo dục. Với xu thế hội nhập để phát triển, xã hội cần có sự thích nghi, làm quen với những yêu cầu và bản chất giáo dục hiện đại , những luật định, quy định chuẩn mực (Trường chuẩn quốc gia, chuẩn nghề nghiệp giáo viên, chuẩn kiến thức…), thì chủ trương xây dựng và áp dụng “Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” là đúng và cần thiết.

Bình tĩnh suy xét có thể thấy, cái dở của ngành GD và ĐT là khi đưa một chủ trương mới vào đời sống, đã không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về tâm thế cho xã hội nhận thức, tiếp nhận và chia xẻ.

Nhưng có một sai lầm “chết người” thuộc về cách quản lý, điều hành của ngành GD, dẫn đến sự hiểu lệch mục đích của chuẩn phát triển, gây “sốc” cho xã hội. Đó là trong văn bản Dự thảo Thông tư của Bộ GD và ĐT về ban hành bộ Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi lại có yêu cầu giáo viên các trường phải đánh giá trẻ. Chính cách chỉ đạo “Trống đánh xuôi kèn thổi ngược” này đã mâu thuẫn với mục đích của “Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”. Đó là điều rất bất ổn trong năng lực quản lý và điều hành GD của ngành.

Bất ổn nữa, những bất hợp lý của chuẩn phát triển có căn nguyên là bản thân chuẩn này không dựa trên cơ sở khoa học là những nghiên cứu thực tiễn về đặc điểm tâm sinh lý trẻ em VN. Đây là một trong ba căn cứ khi xây dựng chuẩn phát triển, nhưng lại là căn cứ quan trọng nhất bao gồm: 1) Đặc điểm tâm sinh lý trẻ em VN; 2) Những giá trị cần hình thành ở lứa tuổi này; 3) Kinh nghiệm của các nước đã xây dựng chuẩn phát triển.

Hàng chục năm nay, nghiên cứu cơ bản về đề tài này gần như vắng bóng trong nghiên cứu khoa học GD nước ta. Thực tế, “Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi” nhiều phần phải dựa trên các kết quả nghiên cứu khoa học của nước ngoài. Đây là sự bất cập, sự hạn chế lớn nhất của các đề tài nghiên cứu về trẻ em nói riêng, GD nói chung.

Thế cho nên ý kiến của một số nhà khoa học trong nước và Việt kiều ở nước ngoài nhận xét chuẩn phát triển thiếu tính khoa học là xác đáng. Đó liệu có phải là sự bất ổn trong nghiên cứu và phát triển GD Việt Nam nói chung hay không? Sự bất ổn xuất phát từ một nền GD thiếu lý luận, coi thường lý luận, coi thường nghiên cứu khoa học GD, nên phát triển chắp vá, vay mượn.

Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi chỉ là chủ trương của một ngành học (mầm non), nhưng đến ngay cả Chiến lược phát triển GD 2009- 2020, một chủ trương lớn mang tầm chiến lược toàn ngành cũng vậy, cũng hoàn toàn thiếu những nghiên cứu, điều  tra xã hội học là căn cứ xây dựng mục tiêu giáo dục và chiến lược phát triển, dẫn đến những tranh cãi quyết liệt, khó thuyết phục dư luận. Trong xã hội, tiếp tục tồn tại một tâm lý bất ổn, thất vọng và đầy hoài nghi về chiến lược lẫn tương lai GD nước nhà.

Đến bao giờ- GD- một lĩnh vực cần đem đến hạnh phúc và sự bình yên trong mỗi nếp nhà không còn chứa đựng sự bất ổn?

  • Kim Dung

(Sưu tầm)

10
Feb
09

Trẻ 5 tuổi phải biết yêu kính Bác Hồ và dự đoán hiện tượng mưa nắng gió sắp xảy ra

Trẻ 5 tuổi phải biết yêu kính Bác Hồ và dự đoán hiện tượng mưa nắng gió sắp xảy ra

Nhiều tiêu chuẩn phi thực tế

Nếu đứa trẻ nào đạt đủ các tiêu chuẩn trên thì chắc không thể gọi là đứa trẻ được. Có một số tiêu chuẩn nhiều người lớn chưa chắc làm được, ví dụ như:

Chuẩn 4d: Biết thuốc lá có hại cho sức khỏe và thể hiện thái độ không đồng tình với người hút thuốc.

Chuẩn 21d: Dự đoán một số hiện tượng tự nhiên đơn giản (mưa, nắng, gió…) sắp xảy ra.

Chuẩn 27b: Thực hiện đến cùng công việc được giao;

Chuẩn 29a: Thể hiện cái mới, độc đáo trong trò chơi (VD: sử dụng cán chổi để làm ngựa phi, dùng chiếu, chăn để làm nhà, lều…) hoặc trong tạo hình (vẽ, nặn các vật theo ý tưởng riêng …), âm nhạc (vận động mô phỏng theo bài hát, đặt lời mới theo nhạc bài hát quen thuộc …);

Có quá nhiều chỉ số đến cả người lớn cũng không làm được.

Ví dụ như chạy 50m/18s là cực kỳ khó. Chưa kể, với nhiều trẻ nhỏ, sức khỏe chưa ổn định và thực sự không tốt thì việc đưa đánh giá này vào sẽ khiến giáo viên thúc giục trẻ cải thiện theo phương pháp không tích cực, đưa lại hậu quả không lường.

Nếu có điều gì khiến tôi không thích ở nền giáo dục Việt Nam thì đó là việc học sinh được học quá nhiều kiến thức lí thuyết và ít thực hành so với mặt bằng chung của thế giới. Tôi thấy rằng kiến thức ở đây được phải nói là “nhồi” chứ không phải là dạy cho học sinh. Học là học các kĩ năng, học để vui vẻ, để vững vàng. Ở Việt Nam thì dường như đó là để học cho hết kiến thức của nhân loại.

Bạn tôi kể rằng em của bạn tôi học lớp 7 ở Việt Nam khi chuyển sang Trung Quốc học thì em đó được đặc cách học lớp 10 vì chương trình của Việt Nam khá nặng. Như sách toán lớp 1 chẳng hạn, năm 1996, tôi học lớp 1 thì chỉ học đếm đến 10. Còn năm 2006, cháu tôi học lớp 1 thì nó đã học đếm tới 100. Tôi thấy rằng yêu cầu trẻ mầm non mà nhận biết được 29 chữ cái trong Tiếng Việt là quá nặng. Như vậy, vô hình chung, ta đã khuyến khích (bắt buộc) các bậc phụ huynh cho trẻ đi học trước để theo kịp bạn bè khi vào học lớp 1. Ngoài ra, tôi rất thích chuẩn lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội.

Tiêu chuẩn cho trẻ 5 tuổi như thế là hơi cao. Trẻ 5 tuổi còn ngây thơ và hồn nhiên. Nếu bắt trẻ 5 tuổi phải tư duy sớm, lúc đó trẻ sẽ không còn hồn nhiên như vốn có.

Cơ sở nào đưa ra những chuẩn này?

Tôi không rõ khi đưa ra những chuẩn này, Bộ GD-ĐT căn cứ vào cơ sở nào? Lấy cơ sở trong nước (vùng, miền, nông thôn, thành phố…) hay quốc tế? Cần có sự phối hợp của Bộ Y tế và các cơ quan hữu quan trong quá trình dự thảo để đưa ra chuẩn phù hợp nhất đối với trẻ em VN. Chỉ riêng việc trẻ 5 tuổi phải chạy được liên tục 150m đã khủng khiếp rồi!

Thông tin “chuẩn phát triển của trẻ 5 tuổi” với 125 chỉ số mà Bộ GD-ĐT đang dự thảo thu hút sự quan tâm của nhiều phụ huynh. Khảo sát nhanh cho thấy, có 3 luồng ý kiến khác nhau từ các bậc cha mẹ.

“Tôi e là làm thế này, bệnh thành tích sẽ “nặng” thêm. Tôi đang thắc mắc là đạt bao nhiêu chỉ số thì con mình sẽ đạt chuẩn? Bố mẹ sợ hồ sơ của con ghi là “không đạt chuẩn” nên phải lo lót cho cô giáo. Còn cô giáo vì sợ lớp không đạt chuẩn sẽ đánh giá qua loa, vì những cái chỉ số này, ai kiểm soát được?”.

“Theo tôi, chiểu theo 125 chỉ số này thì 100% trẻ em Việt Nam không đạt chuẩn. Chỉ riêng việc phải chạy liên tục 150m không được nghỉ tôi thấy đã quá sức với một đứa bé 5 tuổi. Tôi không muốn và cũng chẳng thích con mình thành thần đồng”.

Luồng dư luận ngược lại cho rằng việc đưa ra 125 chỉ số đánh giá sự phát triển trẻ 5 tuổi như trên là tốt. “Tôi thấy những chỉ số cụ thể này là định hướng tốt để các cô giáo có cách giáo dục hiệu quả, sao cho các cháu ngày càng hoàn thiện”,

“Nhưng chuẩn đó ra sao lại là chuyện khác. Nhìn vào nội dung bộ chuẩn dự thảo này, tôi nghĩ Bộ nên nghiên cứu, rút ngắn lại, không quá vụn vặt, nhiều cái còn “ngây ngô” như trẻ 5 tuổi phải phân biệt được mình là trai hay gái. Cần phối hợp với các cơ quan nghiên cứu về sức khỏe, dinh dưỡng, tâm sinh lý trẻ em để đưa ra các chỉ số sát thực tế nhất”.

Chồng chéo tiêu chuẩn

Điểm không hợp lý đầu tiên liên quan đến việc sắp xếp các chuẩn nằm trong các nhóm lĩnh vực.

Có một số chuẩn không thật phù hợp với tên gọi của lĩnh vực. Điều này sẽ dẫn đến sự chồng chéo giữa các tiêu chuẩn với nhau, dẫn đến việc đánh giá không chính xác từng lĩnh vực một.

Ví dụ: Chuẩn 4 “hiểu biết và thực hành chăm sóc sức khoẻ, dinh dưỡng”, Chuẩn 5 “thực hành chăm sóc vệ sinh cá nhân” và Chuẩn 6 “hiểu biết và thực hành về an toàn cá nhân” không thuộc về lĩnh vực thể chất, mà thuộc về lĩnh vực phát triển nhận thức (nhận thức về dinh dưỡng hay sức khoẻ).

Tương tự như vậy, Chuẩn 7 (nhận thức về bản thân) không thuộc về lĩnh vực phát triển tình cảm và xã hội, mà thuộc về lĩnh vực nhận thức (về bản thân hay tự ý thức). Chuẩn 8 (tự tin và tự trọng) cũng không thuộc lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội.

Chỉ số thiếu rõ ràng

Điểm không hợp lý tiếp thứ hai liên quan đến các chỉ số trong từng tiêu chuẩn.

Có một số chỉ số không thể hiện được chính xác, hoặc không thể hiện rõ ý nghĩa của tiêu chuẩn. Ví dụ: Chỉ số a (chuẩn 13) “nói được khả năng và sở thích của người khác” không nên dùng để đo chuẩn 13 “biết tôn trọng người khác”. Các chỉ số khác của chuẩn này cũng chưa thật rõ ràng. Nếu đọc và phân tích thêm, ta cũng thấy những lỗi tương tự như vậy trong các chuẩn khác.

Quá dễ hoặc quá khó

Điểm không hợp lý thứ ba liên quan đến sự tương đồng về độ khó giữa các chỉ số.

Có các chỉ số rất dễ mà trẻ lên 3 (phát triển bình thường) cũng có thể làm được như “cài và mở cúc áo” hay “biết bộc lộ cảm xúc vui, buồn, tức giận, sợ hãi, ngạc nhiên, xấu hổ”, “hiểu và đáp lại lời nói của người khác”…

Lại có những chỉ số quá khó mà trẻ khó đạt được như “chạy 18m với thời gian nhiều nhất là 5s”, thời gian quá ngắn và rất hiếm trẻ có thể thực hiện được.

Ngoài ra, còn có các chỉ số đòi hỏi khả năng khá cao ở trẻ như “biết ý nghĩa các biển báo giao thông…”, “nhận biết được các phần của sách truyện”, “tự viết được đúng tên mình (trẻ chưa học viết và ghép vần thì không thể tự viết tên mình được” hay “dự đoán các hiện tượng thiên nhiên”…

Thừa chỉ số

Điểm không hợp lý thứ tư liên quan đến sắp xếp các ý trong một chỉ số.

Một chỉ số chỉ nên đo một kỹ năng/kiến thức duy nhất. Ví dụ: Chỉ số “biết được công dụng và chất liệu của các đồ dùng…”. Người đánh giá trẻ sẽ quyết định như thế nào nếu trẻ chỉ biết được công dụng mà không biết chất liệu của vật.

Một ví dụ khác như: “Nói được ngày trên lốc lịch và giờ (…) trên đồng hồ”. Có những bé chỉ coi được giờ trên đồng hồ mà không coi được ngày trên lịch.

Thế nào là “sẵn sàng với việc học”?

Điểm không hợp lý cuối cùng liên quan đến việc ghép tính “sẵn sàng với việc học” vào chung với lĩnh vực “phát triển nhận thức”.

Ở đây, ta cần làm rõ nội hàm của cái gọi là “sẵn sàng với việc học”.

“Sẵn sàng với việc học” bao gồm việc kiểm tra các kỹ năng cần thiết mà trẻ cần phải có để thích ứng tốt với môi trường ở lớp 1.

Các kỹ năng được kiểm tra bao gồm: việc thông hiểu từ vựng, khả năng giao tiếp, số học, sao chép và sử dụng biểu tượng, tự kiểm soát hành vi, khả năng tập trung chú ý, nỗ lực học tập, tính tò mò, khả năng hợp tác, độc lập trong việc giữ gìn vệ sinh cá nhân…

Rõ ràng, có thể thấy “sẵn sàng với việc học” là một khái niệm rộng và bao hàm rất nhiều lĩnh vực. Vì vậy không nên ghép “sẵn sàng với việc học” vào lĩnh vực phát triển nhận thức.

Quá dễ hoặc quá khó Trong dự thảo này, có những “chuẩn” quá dễ, chẳng hạn, 2 chỉ số thuộc lĩnh vực phát triển thể chất: Cài và mở được cúc áo; Cầm bát, thìa xúc ăn gọn gàng, không làm rơi vãi.

Các bé 5 tuổi chắc chắn đã làm được việc tự cài và mở cúc áo của mình, vì ngay từ lớp mẫu giáo bé hoặc ngay tại gia đình, các bé đã được chỉ bảo và thực hành thuần thục. Còn với việc cầm bát, thìa xúc ăn gọn gàng, không làm rơi vãi thì ngay từ khi bé 3 tuổi, chúng tôi đã tập luyện cho bé và bé đã làm thành thạo.

Nếu đưa những chỉ số này vào thì các giáo viên “nhắm mắt” cũng đánh giá được”.

Đặc biệt, 2 chỉ số của chuẩn 24 (Nhận thức về hình học và hướng trong không gian) thì không cần khảo sát, đánh giá vì hầu hết trẻ 5 tuổi đều đã nhận thức được các loại hình, khối, vị trí trong – ngoài, trên – dưới, phải – trái, ..”.

Trong khi có những chỉ số quá dễ thì lại có chỉ số “không khả thi” vì khó quá.

Chuẩn 20 yêu cầu các bé nhận thức về môi trường, xã hội, kể được tên, tuổi, nghề nghiệp của bố mẹ và các địa điểm gần nơi bé sống. Đây là điều chắc chắn bé nào cũng làm được khi đã lên 5 tuổi.

Nhưng chuẩn 29 (khả năng sáng tạo, thể hiện cái độc đáo trong trò chơi, âm nhạc, kể chuyện) thì sẽ rất nhiều trẻ không đạt được. Đây là vấn đề năng khiếu nên rất khó đánh giá các em. Nếu có đánh giá thì có bé sẽ bị thiệt nếu chẳng may bé không có năng khiếu.

Vênh nhau

Chỉ số “cố gắng kiềm chế những cảm xúc tiêu cực” của chuẩn 9 không thống nhất với chỉ số “dễ hòa đồng với bạn trong nhóm chơi” của chuẩn 10. Những bé đã “dễ hòa đồng” với bạn thì thường không có cảm xúc tiêu cực. Như vậy, làm sao cô giáo biết được các bé có cố gắng để kiềm chế cảm xúc tiêu cực hay không để còn đánh giá?

Sự mâu thuẫn này, là việc tạo ra chỉ số đã không phù hợp với tính cách của các nhóm đối tượng:

Nếu đưa ra 2 chỉ số trên thì phải chia các bé thành 2 nhóm: 1 nhóm các bé cá tính mạnh cần cố gắng kiềm chế cảm xúc tiêu cực, còn một nhóm các bé “thuần tính” hơn. Như vậy mới công bằng cho các bé và dễ thực hiện việc đánh giá đối với các cô giáo.

Trùng nhau

Không chỉ “vênh”, có chỉ số còn trùng nhau. Chẳng hạn, chỉ số “dự đoán một số hiện tượng tự nhiên đơn giản (mưa, gió, …) sắp xảy ra” của chuẩn 21 và chỉ số “nói được mối liên hệ nguyên nhân – kết quả đơn giản trong cuộc sống hàng ngày” của chuẩn 28 thực chất là một, vì nó chỉ là 2 cách thể hiện khả năng suy luận của bé mà thôi.

Với 125 chỉ số, trẻ không bị quá tải?

Câu chữ trong dự thảo còn có chỗ chưa rõ ràng, “đao to búa lớn”. Việc dùng những “khẩu hiệu” như “biết tìm cách giải quyết mâu thuẫn”, “chấp nhận sự phân công của nhóm” nghe rất nặng nề, nghiêm trọng.

Bên cạnh đó, lại có những chỉ số nội dung rất chung chung, không cụ thể. Đọc xong chỉ số “Rót nước vào cốc không làm đổ ra ngoài” tôi không biết phải hiểu thế nào. Vấn đề là rót nước từ đâu thì lại không được nêu ra. Nếu ấn nút từ bình nước thì chẳng bé nào làm đổ ra ngoài, kể cả bé 3 tuổi. Vậy thì đánh giá thế nào đây?

Trẻ sẽ không bị “quá tải”?

Trước đây, chúng tôi căn cứ vào bộ chuẩn ban hành năm 1990 để đánh giá trẻ 5 tuổi. Có thể, con số 125 ở bộ chuẩn dự thảo này gây “hoang mang” bởi sẽ có nhiều người băn khoăn: 1 đứa bé mới 5 tuổi liệu có đáp ứng nổi ngần ấy chỉ số hay không.

Chúng tôi đã trực tiếp tập luyện và thấy các bé hoàn toàn có thể làm được điều này. Những thay đổi trên tôi nghĩ phù hợp với điều kiện phát triển của trẻ em bây giờ. Chiều cao và thể lực, dinh dưỡng các em tốt hơn, nhu cầu vận động cao hơn.

Chỉ số “Thể hiện sự thích thú với sách (tìm kiếm sách để xem, yêu cầu người khác đọc cho nghe, thích đọc theo người lớn, tham gia đọc sách với bạn)” là không tưởng. Ở nông thôn, vùng sâu, xa, làm gì có sách để tìm kiếm, lấy đâu ra người đọc cho bé? Mặt khác, thể lực, dinh dưỡng các bé mỗi nơi mỗi khác, không thể “cào bằng” được.

Vấn đề tôi quan tâm nhất hiện nay là làm thế nào để đánh giá chính xác được các bé và giáo viên phải dạy như thế nào để ra được kết quả này. Dành thời gian nào để đánh giá? Việc đánh giá dựa vào cá nhân giáo viên vì họ là người trực tiếp dạy dỗ các bé hàng ngày, nên nếu năng lực, nhận thức giáo viên không tốt thì hiệu quả sẽ không cao”.

Chúng tôi đang chờ dự thảo được sửa đổi sẽ “co lại”, càng ngắn càng tốt. Nhà trường cũng có các tổ chuyên môn thường xuyên giám sát, kiểm tra đột xuất để tránh giáo viên báo cáo không đúng thực tế”.

VA tổng hợp các ý kiến từ VietNamNet


Dự thảo chuẩn phát triển cho trẻ 5 tuổi







(Nguồn: ttxVangAnh)

——————————

Trẻ em 5 tuổi phải biết kiềm chế cảm xúc tiêu cực và dự báo thời tiết
241 magnify
Trẻ ở độ tuổi này phải biết bật xa tối thiểu 50 cm bằng hai chân, che miệng khi ho, hắt hơi, ngáp, chọn quần áo phù hợp với thời tiết hay sử dụng cán chổi để làm ngựa phi, dùng chiếu, chăn để làm nhà, lều…


“Alo, em biết Bộ Giáo dục sắp ban hành quy định tiêu chuẩn bọn mình chưa cưng?

Đây là nội dung của Dự thảo Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi do Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành. Trẻ năm tuổi là trẻ từ 60 tháng đến 72 tháng tuổi. Bộ chuẩn này xét đến 4 lĩnh vực phát triển là thể chất, tình cảm xã hội, ngôn ngữ và giao tiếp, nhận thức và sẵn sàng với việc học, gồm 29 chuẩn với 129 chỉ số đánh giá.

Theo Dự thảo Bộ chuẩn này, về thể chất, trẻ 5 tuổi có thể nhảy xuống từ độ cao 40 cm và tiếp đất an toàn, đi giật lùi ít nhất 5m theo hướng thẳng hay chạy 18 m với thời gian nhiều nhất 5 giây… Ở kỹ năng vận động tinh xảo và phối hợp vận động mắt tay, bé có thể tô màu được hình có chi tiết nhỏ (tô kín, không chờm ra ngoài nét vẽ) hay cắt được theo đường thẳng và cong của các hình đơn giản…

Trẻ em phải biết bay nhảy


Trong sự phát triển tình cảm và quan hệ xã hội, trẻ phải nói được họ tên, địa chỉ nhà hoặc số điện thoại, tên bố mẹ; cố gắng kiềm chế những cảm xúc tiêu cực (ăn vạ, gào khóc, ném đồ chơi…); có thói quen chào hỏi, xưng hô lễ phép với người lớn, cảm ơn, xin lỗi…; có hành vi bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hằng ngày (không vứt rác bừa bãi, tiết kiệm điện, nước…).

Ở lĩnh vực phát triển ngôn ngữ và giao tiếp, ngoài việc phát âm rõ ràng, không nói tục chửi bậy, trẻ phải tự viết được đúng tên mình, nhận dạng được 29 chữ cái tiếng Việt, phát âm đúng phiên âm của các chữ cái, đếm được ít nhất đến 10, gọi tên các ngày trong tuần theo thứ tự…


“Chị ơi, nạp tiền để em nhắn tin cho anh ấy với”

Về lĩnh vực phát triển nhận thức và sẵn sàng với việc học, bé phải biết thứ tự các giai đoạn phát triển cơ bản của cây như: hạt nảy mầm thành cây, ra hoa, có quả hay nói được những đặc điểm nổi bật của từng mùa (xuân, hè, thu, đông) trong năm. Ngoài ra, trẻ cũng có thể dự đoán một số hiện tượng tự nhiên đơn giản (mưa, nắng, gió…) sắp xảy ra, chỉ ra được khối cầu, khối vuông, khối chữ nhật và khối trụ theo yêu cầu.


“Ngày mai trời nắng đẹp, nhưng có thể có mưa


Bộ chuẩn này nhằm giúp giáo viên mầm non điều chỉnh nội dung giáo dục phù hợp, giúp phụ huynh nâng cao nhận thức, kỹ năng chăm sóc và giáo dục trẻ. Đồng thời, đây cũng là căn cứ cho việc điều chỉnh và phát triển chương trình giáo dục, xây dựng tài liệu liên quan đến sự phát triển toàn diện của trẻ; làm căn cứ đánh giá chất lượng cơ sở mầm non.


Cuối mỗi học kỳ, giáo viên báo cáo kết quả đánh giá sự phát triển của trẻ với ban giám hiệu, làm căn cứ đánh giá chất lượng chăm sóc, giáo dục của từng lớp và nhà trường. Kết quả đánh giá sẽ được lưu trong hồ sơ cá nhân của trẻ.


Ngoài ra, cha mẹ học sinh có thể căn cứ vào đây để đánh giá khả năng của con mình bằng cách cho điểm. Mỗi chỉ số đạt yêu cầu được 1 điểm, không đạt 0 điểm. Trẻ đạt yêu cầu nếu đạt ít nhất 50% tổng số điểm tối đa của mỗi chuẩn, lĩnh vực và của cả Bộ chuẩn.


“Uhm, theo anh biết thì sẽ ban hành Tháng 4/2009 đấy”

Theo kế hoạch đầu tháng 4 này, Bộ sẽ ban hành bộ chuẩn này.

(OnlyU’s blog)

20
Tháng 1
09

Kiến nghị: Cải cách, hiện đại hóa giáo dục

Thư giáo sư Hoàng Tuỵ gửi kèm kiến nghị


Kiến nghị:

Cải cách, hiện đại hóa giáo dục

(của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS)

Sau hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế ấn tượng dựa chủ yếu vào vốn đầu tư, lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên, đã đến lúc muốn tiếp tục đi lên một cách bền vững đất nước cần mau chóng chuyển sang hình thái phát triển mới, dựa chủ yếu vào trí tuệ và tài năng. Do đó chưa bao giờ chấn hưng giáo dục trở thành nhiệm vụ bức thiết như lúc này. Mười ba năm trước TƯ đã có nghị quyết xác định phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu. Nghị quyết rất đúng đắn, tiếc rằng việc triển khai thực hiện bất cập nên sau gần mười năm, Thủ Tướng Phan Văn Khải đã phải thừa nhận chúng ta không thành công trong giáo dục và khoa học.

Với ý thức trách nhiệm công dân, năm  2004 một nhóm 24 nhà giáo dục, khoa học và văn hóa đã gửi lên TƯ một bản điều trần kêu gọi cải cách, hiện đại hóa giáo dục. Bản điều trần này đã được nhiều tầng lớp xã hội hưởng ứng rộng rãi. Từ đó đến nay, tuy tình hình đã có nhiều thay đổi lớn, song những vấn đề được đề cập trong bản điều trần về cơ bản vẫn còn nóng hổi tính thời sự và vẫn tiếp tục là mối quan tâm hàng đầu của bất cứ ai lo lắng đến tương lai con em và tiền đồ dân tộc. Vì vậy, chúng tôi khẩn thiết kiến nghị TƯ một lần nữa xem xét nghiêm túc các vấn đề nêu trong bản điều trần để kịp thời lựa chọn quyết sách chấn hưng giáo dục.

Để giúp thêm TƯ có cơ sở lựa chọn quyết sách, dưới đây chúng tôi xin bổ sung và phát triển bản điều trần ở mấy phần chính: 1) nhận diện tình thế khủng hoảng của giáo dục; 2) những sai lầm chủ yếu làm tha hóa giáo dục;  3) các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng của giáo dục;  4) chấn hưng, cải cách giáo dục là mệnh lệnh cuộc sống; 5) một số việc cấp bách cần làm trong khi chưa cải cách.

1.  Nhận diện tình thế khủng hoảng của giáo dục

Bản điều trần năm 2004 đã nêu vắn tắt thực trạng nghiêm trọng của giáo dục cho đến thời điểm ấy. Bốn năm qua, những căn bệnh chủ yếu của giáo dục chưa hề thuyên giảm. Mặc cho những khoản đầu tư tăng liên tục và những cố gắng tích cực chấn chỉnh quản lý hai năm gần đây, chúng ta vẫn tiếp tục tụt hậu so với khu vực và thế giới. Theo báo cáo giám sát toàn cầu về giáo dục của UNESCO năm 2008 vừa mới công bố, VN tiếp tục mất điểm về chỉ số phát triển giáo dục cho mọi người (EDI) và tụt 9 bậc trong bảng xếp hạng EDI trong 5 năm từ 2004 đến 2008, đứng dưới cả Malaysia, Indonesia, Trung Quốc là những nước trước đây thua kém VN về EDI. Về đại học, nhiều số liệu đáng tin cậy cho thấy sự tụt hậu rất xa của các đại học của ta so với ngay cả các đại học của Thái Lan hay Malaysia về nghiên cứu khoa học – tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng đại học.1) Theo đánh giá của WEF (Diễn đàn Kinh tế Thế giới) đào tạo và giáo dục đại học là một trong ba lĩnh vực yếu nhất, đáng lo ngại nhất, của Việt Nam. Sự yếu kém giáo dục cũng được phản ảnh rõ trong việc năng lực cạnh tranh toàn cầu của VN năm 2008 tụt thêm hai bậc, sau khi đã tụt bốn bậc năm 2007.

Giáo dục là một hệ thống phức tạp được đặc trưng bởi mục tiêu, cấu trúc tổ chức (bao gồm các phần tử và các hệ thống con), phương thức vận hành và hiệu quả hoạt động. Nếu về mỗi yếu tố ấy đều có quá nhiều trục trặc nghiêm trọng kéo dài hàng thập kỷ mà không khắc phục được, khiến mọi sự điều chỉnh cục bộ theo cơ chế sai-sửa-sai như lâu nay đã thực hiện đều không cứu vãn nổi, thì tình trạng ấy phải được nhận diện là sự khủng hoảng.

Nhìn lại hệ thống giáo dục VN, những dấu hiệu khủng hoảng đã lộ rõ từ lâu và hiện đã vượt quá xa giới hạn báo động.

Từ chỗ trước đây là sự nghiệp toàn dân, nay giáo dục đã dần dần mất phương hướng, không còn rõ giáo dục cho ai, vì ai, để làm gì.  Học sinh bỏ học nhiều, cơ hội được đi học đối với con em các gia đình nghèo còn khó, mà cơ hội học được đến nơi đến chốn càng khó hơn, do nhiều vấn nạn về học phí, sách giáo khoa, học thêm, thi cử, học xong rồi làm gì, v.v. Trách nhiệm của Nhà Nước đối với giáo dục có xu hướng sút giảm dần, nhường chỗ cho quan niệm tư nhân hóa cực đoan đang gia tăng theo chiều hướng phủ nhận giáo dục với tính chất là lợi ích công, muốn biến nó thành một thứ hàng hóa thuần túy, thuận mua vừa bán theo luật cung cầu của thị trường. Khoảng cách giữa mục tiêu lý thuyết và thực tiễn thực hiện đang ngày một rộng thêm, đang có nguy cơ đẩy giáo dục xa rời lý tưởng công bằng, dân chủ, văn minh mà xã hội đang muốn hướng tới.

Cơ cấu tổ chức và hoạt động giáo dục mất cân đối, rối loạn trầm trọng giữa giáo dục phổ thông, dạy nghề, cao đẳng, đại học, giữa công lập và tư thục, giữa chuyên tu, tại chức, đào tạo liên kết, v.v…. tất cả làm thành một hệ thống rối ren không đồng bộ, thiếu nhất quán, hoạt động phân tán, rời rạc, mà mỗi đơn vị tuân theo lợi ích cục bộ, thiển cận, hơn là quan tâm đến lợi ích cơ bản và lâu dài của cộng đồng. Một hệ thống mấy trăm đại học, cao đẳng, với chất lượng rất thấp, bên cạnh một hệ thống dạy nghề què quặt, trên nền một hệ thống giáo dục phổ thông cũ kỹ, lạc hậu, hơn hai thập kỷ nay vẫn loay hoay triền miên với những thí nghiệm tốn kém không hiệu quả, đó là bức tranh tổng thể của hệ thống giáo dục VN ở thời điểm này.

Nội dung và phương pháp giáo dục thể hiện xu hướng hư học cổ lỗ, dành nhiều thời gian học thuộc lòng những điều lạc hậu vô bổ, mặt khác lại quá thực dụng thiển cận, thiên về ăn xổi mà coi nhẹ những vấn đề có ý nghĩa cơ bản cho cả xã hội và cho từng cá nhân như: hình thành nhân cách, rèn luyện năng lực tư duy, khả năng cảm thụ. Coi nhẹ kỹ năng lao động, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, đức tính trung thực, năng lực sáng tạo, năng lực tưởng tượng – những đức tính và năng lực thời nào cũng cần nhưng đặc biệt thời nay càng cần hơn bao giờ hết. Trong khi đó coi trọng bằng cấp và thi cử hơn học, khiến thi cử và chạy theo bằng cấp lôi cuốn toàn xã hội, gây ra nhiều lãng phí lớn, và nhiều tiêu cực như bằng giả, bằng dỏm, học giả, v.v, ảnh hưởng rất xấu đến môi trường văn hóa tinh thần.

Chất lượng đào tạo sút kém một thời gian dài, đặc biệt ở đại học, cao đẳng và dạy nghề, khiến nhân lực đào tạo ra còn xa mới đáp ứng được đòi hỏi thực tế về cả ngành nghề, chất lượng và số lượng.  Dân trí thấp - hệ quả tất nhiên của giáo dục yếu kém – tác động tiêu cực đến môi trường, sức khỏe cộng đồng, an toàn giao thông, gây ra hàng loạt vấn nạn trên mọi phương diện của đời sống. Tuy có một số thành công bước đầu rất hạn chế qua các lớp phổ thông chuyên, và các lớp cử nhân “tài năng”, kỹ sư “tài năng” mới ra đời mấy năm gần đây, nói chung việc bồi dưỡng và sử dụng nhân tài còn ở trình độ cực kỳ sơ khai, lại thiếu môi trường và chính sách thích hợp, nên không những không thu hút được nhân tài từ nước ngoài mà cũng không giữ chân được số ít  ỏi nhân tài đã may mắn gây dựng được trong nước. Nạn chảy máu chất xám tuy đã được báo động từ lâu song chưa được ngăn chặn hữu hiệu, mà chỉ nặng về lặp đi lặp lại những lời hô hào và hứa hẹn.

Trong khi chất lượng giáo dục sa sút thì lãng phí và tham nhũng khiến chi phí cho giáo dục tăng cao một cách phi lý, trở thành gánh nặng không chỉ cho ngân sách quốc gia, mà cho mọi gia đình vì phần đóng góp trực tiếp của dân ước tính lên đến hơn 40% tổng chi cho giáo dục. Điều đáng lo hơn cả là sự lãng phí đó, dù rất lớn vẫn chưa đáng kể so với sự lãng phí chất xám gây ra bởi chính sách đào tạo và sử dụng nhân tài hẹp hòi thiển cận.

Bấy nhiêu vấn nạn tích lũy hàng chục năm, ngày một trầm trọng hơn và đến nay vẫn chưa thuyên giảm, mặc cho mọi cố gắng khắc phục, là bằng chứng của sự khủng hoảng giáo dục từ bên trong hệ thống. Không phải chỉ đơn thuần là sự khủng hoảng về quy mô, số lượng, mà nghiêm trọng hơn, là sự khủng hoảng về đường lối (triết lý), về chất, tiềm ẩn nguy cơ tha hóa không thể coi thường.

Điều may mắn là vượt lên trên tình hình chung không mấy sáng sủa vẫn có những điểm sáng nhất định, và trong từng cấp học và từng địa phương đều tự phát có những đơn vị khá thành công, vẫn còn những con người tràn đầy nhiệt huyết và quyết tâm, chứng tỏ tiềm năng phát triển giáo dục của đất nước còn lớn.

2. Những sai lầm chủ yếu làm tha hóa giáo dục

Sự khủng hoảng giáo dục trước hết là khủng hoảng về chất, điều đó cũng có nghĩa là giáo dục không chỉ tụt hậu mà đã đi lạc hướng, trở thành lạc lõng, trong trào lưu chung của thế giới hiện đại. Đó là hậu quả của nhiều năm phạm những sai lầm quản lý có tính hệ thống làm tha hóa giáo dục.

Sai lầm đầu tiên tai hại nhất, dẫn đến suy thoái trầm trọng đạo đức trong nhà trường, là chính sách đối với người thầy dựa trên quan niệm lệch lạc về sứ mạng và vai trò người thầy trong nền giáo dục hiện đại. Từ chỗ phê phán đúng đắn tư duy lạc hậu trong nhà trường cũ gán cho thầy quyền uy tuyệt đối, biến giáo dục thành quá trình truyền đạt và tiếp thu hoàn toàn thụ động, đã dần dần xuất hiện tư duy cực đoan ngược lại, phủ nhận vai trò then chốt của người thầy đối với chất lượng giáo dục. Với cách hiểu giáo dục thô sơ, khi thì nhấn mạnh một chiều “học sinh là trung tâm” để hạ thấp vai trò người thầy, khi khác tôn chương trình, sách giáo khoa lên địa vị “linh hồn giáo dục”, nhận định chất lượng đại học thấp “không phải do thầy mà do chương trình”, v.v. dẫn đến hoàn toàn xem thường việc xây dựng đội ngũ thầy giáo theo chuẩn mực chuyên môn và đạo đức hiện đại. Trong mọi khâu từ tuyển chọn đến sử dụng và bồi dưỡng người thầy, khâu nào cũng phạm sai lầm lớn.  Đặc biệt tệ hại là chính sách lương: trả lương cho thầy, cô giáo dưới mức sống hợp lý, lấy cớ ngân sách eo hẹp (ban đầu do khó khăn có thật, về sau chỉ là do tham nhũng và sử dụng ngân sách không hợp lý), buộc thầy, cô phải xoay xở kiếm thêm thu nhập bằng mọi cách (dạy thêm, làm thêm ngoài giờ, bằng tay trái, đến nỗi hiện tại cũng không hiếm giảng viên đại học dạy sô trên 30 giờ/tuần). Có thể nói không quá đáng tất cả những căn bệnh trầm trọng về đạo đức nghề nghiệp: gian dối, tiêu cực, lãng phí, quan liêu… đã tàn phá giáo dục trong nhiều năm đều có nguồn gốc sâu xa liên quan tới cái lỗi hệ thống cơ bản này.1*)

Sai lầm thứ hai, biến học tập thành một thứ khổ dịch, là tập trung tất cả việc dạy và học vào thi cử, nói rõ hơn là thay vì thi, kiểm tra thường xuyên nghiêm túc từng học phần để bảo đảm kết quả học tập vững chắc thì dồn hết cố gắng vào các kỳ thi tốt nghiệp, thi “quốc gia” nặng nề, căng thẳng, rất hình thức mà một thời gian dài thiếu nghiêm túc, sinh ra hội chứng thi rất đặc biệt của giáo dục Việt Nam: gần thi mới lo học, học đối phó, học nhồi nhét chỉ cốt để thi, thi cái gì học cái nấy, thi thế nào học thế ấy, chủ yếu là học thuộc lòng các loại bài mẫu, các đáp án mẫu. Trước đây thi theo bộ đề thi cho sẵn, nay, sau nhiều năm đã bỏ, bộ đề thi biến tướng thành các bảng “cấu trúc đề thi”. Đem việc học phụ thuộc vào việc thi, khiến thi chứ không phải học trở thành hoạt động giáo dục chủ yếu, đó là tàn tích lạc hậu của lối học từ chương khoa cử, một thời đã bị lên án nhưng dần dần được khôi phục lại. Trên thì Bộ GD-ĐT có cả một cơ quan đông đúc (nay là Cục khảo thí) chuyên nghiên cứu qui chế thi, ra đề thi, tổ chức chấm thi, thanh tra, giám sát thi, mỗi năm một kiểu (năm 2009 càng rắc rối phức tạp hơn mọi năm trước), dưới thì các lò luyện thi, các lớp học thêm, dạy thêm, các máy sao chụp hoạt động hết công suất để phục vụ học sinh đi thi. Từ đó đẻ ra những dịch vụ kỳ quái hiếm thấy trên thế giới: sản xuất “phao” thi, thi thuê, viết luận án thuê, làm bằng giả, mua bằng thật nhưng học giả, v.v. Cho nên chừng nào còn duy trì cái khổ dịch thi cử này thì kinh tế còn phải trả giá nặng nề cho sự tụt hậu của giáo dục. Nếu tính hết mọi khoản chi trực tiếp và gián tiếp phục vụ cho các kỳ thi và mọi thiệt hại (kể cả về tâm lý) phát sinh do thi cử kiểu này, thì hậu quả xấu rất lơn (riêng về tiền có thể đến cả chục nghìn tỉ đồng mỗi mùa thi), bình thường đã khó chấp nhận mà trong bối cảnh khó khăn kinh tế càng không thể hiểu nổi. Trung Quốc hay Hàn Quốc, thi còn nhẹ nhàng hơn ta mà họ đã phê phán cái “địa ngục thi cử của họ, còn thi cử như ta không biết phải gọi là cái địa ngục gì.

Sai lầm thứ ba, dẫn đến rối loạn vượt quá tầm kiểm soát, là chạy theo số lượng, hy sinh chất lượng, bất chấp mọi chuẩn mực, thông lệ và kinh nghiệm quốc tế. Đặc biệt trong lĩnh vực quản lý đại học (đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, công nhận GS, PGS, phát triển đại học) tình trạng phát triển bừa bãi, dối trá, diễn ra hết sức nghiêm trọng và kéo dài gần hai thập kỷ. Trong thời đại toàn cầu hóa, muốn không bị loại khỏi cuộc cạnh tranh, ít nhất phải hiểu biết và tôn trọng luật chơi, trước hết là các quy tắc, chuẩn mực, thông lệ quốc tế. Thế nhưng từ các chuẩn mực thông thường nhất về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, cho đến việc tuyển chọn, đánh giá GS, PGS, tuyển sinh thạc sĩ, tiến sĩ, đánh giá công trinh nghiên cứu khoa học, đánh giá các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, v.v. phần lớn đều không theo những chuẩn mực quốc tế mà dựa vào những tiêu chí tự sáng tác, rất thấp và khác so với quốc tế, thiếu khách quan, thiếu căn cứ khoa học, thiếu minh bạch, dễ bị lợi dụng mưu lợi ích riêng cho từng nhóm ích kỷ. Do đó trong một thời gian ngắn đã xuất hiện hàng vạn tiến sĩ và hàng nghìn GS, PGS, trong đó một tỉ lệ khá lớn (không dưới 2/3) dưới chuẩn, thậm chí hữu danh vô thực. Đáng lo nhất là với phong trào đại học hóa ồ ạt, chỉ trong vòng vài năm đã ra đời hàng trăm đại học, cao đẳng, mà nhiều trường trong số đó chẳng có lấy một giảng viên đúng chuẩn. Gần đây, do yêu cầu bức bách hội nhập quốc tế và cạnh tranh đã nảy sinh nhu cầu xây dựng những đại học đẳng cấp quốc tế. Tuy đây là nhu cầu hoàn toàn hợp lý, nhiều người vẫn lo rằng nếu không cảnh giác với bệnh thành tích cố hữu thì cái tâm lý nôn nóng có thể dẫn tới một lần nữa chạy theo số lượng và danh hão, tiêu phí nhiều tiền để mua “danh” nhiều hơn là cầu “thực.” 2) Sự lo lắng không phải không có cơ sở khi được biết Chính Phủ đã chấp thuận cho Bộ GD-ĐT vay 400 triệu USD từ WB để xây dựng 4 trường đại học chất lượng cao đến năm 2020 thuộc top 200 đại học tốt nhất thế giới – trong khi đó quan niệm thế nào là đại học đẳng cấp quốc tế hãy còn rất mơ hồ và bất cập.

Hậu quả tổng hợp của các sai lầm nêu trên là một bộ phận giáo dục dần dần biến chất, tha hóa, xa rời những giá trị cao quý còn sót lại từ quá khứ. Cái chất thực sự, cái phẩm chất giáo dục, chẳng còn mấy trong nhiều nhà trường – nơi đạo đức băng hoại, nơi học tập trở thành khổ dịch, nơi chẳng còn phép tắc, trật tự. Trường không ra trường, thầy không ra thầy, lời buộc tội nặng nề đó tuy chỉ đúng với một bộ phận của giáo dục, nhưng cũng đủ để gióng lên hồi chuông báo động đỏ cho toàn ngành.

3.  Các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng của giáo dục

Tại sao một dân tộc vốn có truyền thống hiếu học lâu đời mà giáo dục lại rơi vào suy thoái trầm trọng vào đúng lúc nó phải là bệ phóng cho sự phát triển của đất nước?

Hoàn toàn không phải do nghèo, vì công sức, tiền của lãng phí, thất thoát ngay trong ngành giáo dục rất lớn.  Nguyên nhân khủng hoảng phải trung thực nhìn nhận chủ yếu là do lãnh đạo bất cập, trước hết là lãnh đạo của  TƯ.

Trong thời gian dài lãnh đạo các cấp đều chưa nhận thức đúng mức tầm quan trọng của giáo dục trong sự nghiệp phát triển của đất nước nên đã thiếu quyết tâm và thiếu trách nhiệm đối với công tác này. Sau khi nghị quyết Hội nghị TƯ II khóa 8 ra đời, người dân đã trông chờ những chuyển biến mạnh mẽ trong các chính sách và hành động cụ thể để chấn hưng giáo dục. Nhưng từ khâu phân bổ và quản lý ngân sách cho đến quan trọng nhất là khâu tổ chức, bố trí nhân sự lãnh đạo giáo dục ở các cấp, xây dựng bộ máy tham mưu, quản lý và điều hành giáo dục ở TƯ, tất cả đều theo nếp cũ. Lẽ ra chủ trương lấy phát triển giáo dục làm quốc sách hàng đầu phải biến thành ý chí chính trị của toàn xã hội và được quán triệt trong toàn hệ thống chính quyền, thì ngay các bộ và ban ngành xung quanh TƯ và lãnh đạo các địa phưong cũng chưa thật sự thông suốt với chủ trương đó. Rất nhiều chính sách, quy định cụ thể về cán bộ, về tài chính, v.v. đều tỏ rõ giáo dục, khoa học trên thưc tế vẫn được đối xử như những lĩnh vực ưu tiên cuối cùng.3) Trong nhiều năm, sự quan tâm của TƯ đối với hai lĩnh vực này chỉ thu gọn lại là đảm bảo tỉ lệ ngân sách phân bổ theo đúng nghị quyết. Một số ít chính sách có thể hiện ít nhiều sự quan tâm thì cũng chỉ mang tính chắp vá, tùy tiện, đối phó miễn cưỡng, hơn là thật sự chăm lo cho giáo dục, khoa học vì sự nghiệp phát triển của đất nước. Rốt cuộc, tuy đầu tư cho giáo dục có tăng, kể cả ngân sách và vốn vay quốc tế, nhưng tổ chức quản lý không hiệu quả nên năm này qua năm khác giáo dục vẫn thuộc loại đề tài bức xúc nhất của xã hội. Đối mặt với sự cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt nhưng cách suy nghĩ thiển cận khá phổ biến của nhiều quan chức vẫn thiên về so sánh ta với ta để dễ dàng tự thỏa mãn với những tiến bộ chậm chạp đạt được mà không thấy trong khi đó các nước xung quanh ta và trên thế giới tiến nhanh hơn ta gấp bao nhiêu lần. Tụt hậu mà không nhận thức được sự tụt hậu cho đến nay vẫn là trở ngại tư tưởng lớn nhất về phía lãnh đạo. Căn bệnh chủ quan, thiếu trung thực trước những thách thức của tình hình đã ru ngủ chúng ta quá lâu, giờ đây hình như đang biến tướng thành bệnh thoát ly thực tế, chạy theo những mục tiêu nặng về phô trương chính trị nhiều hơn là thiết thực.

Nghị quyết TƯ II khóa 8 chỉ mới xác định vị trí quan trọng của công tác giáo dục và phê phán những tàn tích của lối học từ chương khoa cử lạc hậu, chứ chưa nêu rõ những nguyên lý cơ bản của đường lối giáo dục (triết lý giáo dục) mới, thay thế cho đường lối giáo dục cũ không còn thích hợp nữa. Những điều ghi lại trong các văn kiện, nghị quyết, kể cả trong luật giáo dục đã hai lần chỉnh sửa, đều chưa đủ và có nhiều điểm chưa đúng, dễ dàng bị sử dụng làm căn cứ biện hộ cho những quan điểm lỗi thời.4) Vì thế, trong suốt thời gian dài, tuy các quan chức phụ trách giáo dục mỗi lần báo cáo đều thừa nhận “chậm đổi mới tư duy”, song đổi mới như thế nào thì không rõ và dĩ nhiên tình hình mập mờ ấy hậu thuẫn cho tư duy lạc hậu, cũ kỹ, cứ tiếp tục phát triển. Vẫn các quan điểm xơ cứng về xây dựng giáo dục từ thời bao cấp trước đây, chỉ có khác là loay hoay tìm cách thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó dẫn đến mâu thuẫn nghiêm trọng giữa lời nói và việc làm, mà hậu quả là sự giả dối lan tràn khắp mọi lĩnh vực, mọi khâu, mọi ngóc ngách đời sống học đường.  Lẽ ra là nơi gìn giữ sự trung thực và khuyến khích sáng tạo, là nơi hình thành nhân cách và phát triển trí tuệ, thì nhiều nhà trường đã trở thành nơi dung túng dối trá, nơi tập cho con em nói theo, nghĩ theo, làm theo, động viên con em chỉ học để thi cho đỗ và ra đời … làm quan hoặc kiếm được nhiều tiền.  Nấp dưới lý luận ngây thơ về thị trường hóa giáo dục đã xuất hiện những chủ trương xã hội hóa giáo dục vô nguyên tắc, cổ súy cho thương mại hóa giáo dục không lành mạnh, gây nhiều hậu quả tiêu cực ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng giáo dục đại học vốn đã quá thấp (thậm chí quy chế trường ngoài công lập đã ban hành chỉ thừa nhận loại trường hoạt động vì lợi nhuận!).

Trong thời toàn cầu hoá và kinh tế tri thức, giáo dục muốn cạnh tranh và hội nhập thành công cần một triết lý giáo dục đúng đắn, sáng suốt, cập nhật thời đại, một tầm nhìn chiến lược dựa trên triết lý đó và một bộ máy quản lý điều hành năng động, có trình độ chuyên nghiệp và tinh thần trách nhiệm cao. Thế nhưng suốt một phần tư thế kỷ qua vẫn một tầm nhìn hạn hẹp, nông cạn, cùng với một bộ máy quản lý điều hành thiếu chuyên nghiệp, cả tâm và tầm đều dưới xa yêu cầu. Trong điều kiện đất nước còn nghèo, việc quản lý tốt các nguồn lực, nhất là các phương tiện tài chính, đặc biệt quan trọng, nhưng đây lại là lĩnh vực có quá nhiều bất cập, thiếu minh bạch, khiến nhiều người nghi ngờ tăng đầu tư cho giáo dục sẽ tăng chất lượng tương ứng. Một phần khá lớn ngân sách được chi không hiệu quả, đặc biệt là trong khuôn khổ các dự án và trong loại việc mang tên “nâng cao năng lực quản lý” mà thực chất là gì không minh bạch (gần đây nhất, một dự án 70,5 triệu USD để nâng cấp đại học phải dành tới gần 5 triệu USD để nâng cao năng lực quản lý của Bộ). Nhiều việc trong nhiệm vụ thường xuyên của cơ quan quản lý lại trở thành những “đề tài nghiên cứu khoa học”, có khi là đề tài cấp Nhà Nước, với kinh phí vượt nhiều lần kinh phí cấp cho các đề tài nghiên cứu khoa học thật sự. Nào là soạn thảo chiến lược giáo dục, soạn thảo cơ chế tài chính, nào là xây dựng công tác kiểm định, xếp hạng các đại học, nghiên cứu chương trình học các cấp, làm thí điểm các chương trình mới, v.v. Bấy nhiêu nghiên cứu kéo dài năm này qua năm nọ, thiếu chuyên nghiệp, sửa đi sửa lại nhiều lần, tốn phí nhiều mà hiệu quả thấp, có lẽ cái lợi duy nhất dễ thấy là bảo đảm nguồn thu nhập thường xuyên đáng kể cho các quan chức và cán bộ. Do quản lý tập trung quan liêu và thiếu chuyên nghiệp, chi phí quản lý tăng cao (ước tính chi phí quản lý có thể hơn gấp đôi tổng chi cho lương của giáo viên)5).  Một tình trạng tuy đã bị phê phán từ lâu nhưng đến nay chưa có tiến bộ đáng kể là Bộ ôm quá nhiều việc của cấp dưới nên làm không xuể, trong khi đó lại bê trễ, bỏ trống hoặc làm tắc trách nhiều việc trong nhiệm vụ của chính mình. Hậu quả hiển nhiên của lối quản lý tập trung quan liêu đó là lãng phí và tham nhũng phát triển. Song đáng nói hơn là trong khi hai căn bệnh này ngày càng trầm trọng thì Bộ GD-ĐT mới đây vẫn công khai tuyên bố trong ngành không có lãng phí, tham nhũng.

4. Chấn hưng, cải cách giáo dục là mệnh lệnh cuộc sống

Trước tình hình khủng hoảng của giáo dục, bản điều trần 2004 đã kiến nghị xây dựng lại giáo dục từ gốc, trên cơ sở một triêt lý giáo dục mới, phù hợp với xu thế chung của thời đại và yêu cầu phát triển của đất nước. Nội dung cơ bản của triết lý này đã được trình bày rõ trong bản điều trần (toàn bộ phần II của bản điều trần), xin không nhắc lại ở đây.

Vài năm nay, nhận thấy giáo dục vẫn tiếp tục sa lầy trong suy thoái, nhiều nhà giáo, nhà khoa học, nhiều thức giả trong và ngoài nước cũng đã góp thêm tiếng nói tâm huyết kêu gọi cải cách giáo dục. Đặc biệt Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã bày tỏ lo lắng sâu sắc trước sự suy thoái của giáo dục. Chưa bao giờ xã hội Việt Nam có sự đồng thuận cao như hiện nay về sự cần thiết phải cải cách giáo dục.

Thật ra không phải chỉ gần đây khủng hoảng giáo dục mới được báo động, mà ngay từ năm 1995, trong một hội nghị ba ngày do Thủ Tướng Võ Văn Kiệt hồi ấy triệu tập và chủ trì đã có ý kiến thẳng thắn nêu lên thực trạng nguy kịch của giáo dục và lên tiếng kêu cứu cho ngành này. Nghị quyết TƯ II khóa 8 đã đúc kết những nhận định và kiến nghị tâm huyết đề xuất trong hội nghị đó và trong một số hội thảo tiếp theo. Tiếc rằng từ bấy đến nay đã 13 năm giáo dục vẫn ì ạch, chưa có dấu hiệu bứt ra được khỏi thế trì trệ triền miên. Trong thời gian ấy biết bao cơ hội đã mở ra, và cũng có biết bao thách thức xuất hiện ở phía trước! Nếu tới đây sức ỳ này vẫn tiếp tục chi phối giáo dục thì mục tiêu Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 rất ít hy vọng có thể thực hiện được.

Hiển nhiên, cũng như bất cứ ai có ý thức trách nhiệm với đất nước, các nhà quản lý giáo dục không phải không nhận ra những vấn nạn đã gây bức xúc thường xuyên trong xã hội.  Nhưng do tư duy cũ kỹ và trình độ hạn chế nên trong suốt hai mươi năm trời từ khi công cuộc đổi mới bắt đầu, ngành giáo dục đã loay hoay không tìm được hướng đổi mới đúng đắn, chỉ cải sửa từng phần vụn vặt, chắp vá, gặp đâu sửa đó. Kết quả của những cải cách vụn vặt liên miên đó là đã đẻ ra một hệ thống giáo dục dị dạng, đầu Ngô mình Sở, đi lạc hướng so với thế giới văn minh, thường xuyên gặp khó khăn, đòi hỏi phải liên tục cải sửa, song càng sửa càng rối, càng bất cập.

Chính hoàn cảnh ấy đã thôi thúc một nhóm trí thức viết bản điều trần 2004. Cần ghi nhận rằng bản điều trần đã được Chính Phủ và Bộ GD-ĐT khi ấy tiếp nhận tương đối thuận lợi, với một thái độ thực sự cầu thị. Nhờ đó một số mặt công tác bắt đầu có chuyển biến theo chiều hướng tốt, như một số đổi mới bước đầu trong chương trình phân ban của THPT, trong xây dựng quy chế đào tạo tiến sĩ, quy chế công nhận các chức danh GS, PGS, … Tiếc rằng do sức ỳ của bộ máy quá lớn nên những thay đổi chỉ mới nửa vời, chậm chạp, vất vả, trầy trật, và còn xa yêu cầu. Tình trạng chung là dùng dằng nửa thấy cần đổi mới nửa còn luyến tiếc lối cũ, phần vì trình độ, vì quán tính, phần vì không muốn quyền lực (kèm theo lợi ích) bị chia sẻ. Trong khi đó, mấy năm gần đây lãnh đạo của Bộ ngày càng nghiêng về xu hướng phiêu lưu muốn lái giáo dục theo chiều hướng tự do hóa cực đoan như thể hiện trong đề án “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học giai đoạn 2006-2020″ đã trình lên Chính Phủ thông qua hai năm trước. Sức ỳ và tinh thần ngại thay đổi lớn (đòi hỏi đầu tư cao về trí tuệ), tiến vài bước lùi vài bước, có khi quay ngược 180 độ, chứng tỏ tư duy lãnh đạo của giáo dục còn rất lấn cấn, chưa thông suốt, chưa sẵn sàng đổi mới, ngay cả khi đổi mới giáo dục đã là đòi hỏi bức thiết của cả xã hội.

Hơn một năm nay, Bộ GD-ĐT bắt tay xây dựng “Chiến lược phát triển giáo dục 2008-2020″. Xin lưu ý rằng trước đây đề án “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học giai đoạn 2006-2020″ đã được thông qua trong lúc bản “Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2000-2010″ trên nguyên tắc còn 4 năm nữa mới hết hiệu lực. Bây giờ, trong lúc vừa mới thông qua đề án “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học giai đoạn 2006-2020″ được hai năm, và “Chiến lược phát triển giáo dục 2000-2010″ còn hiệu lực hai năm nữa thì đã có “Chiến lược phát triển giáo dục 2008- 2020″, rồi 2009-2020. Mỗi bản dự thảo chiến lược là công trình cả năm trời hay hơn của một viện hàng mấy trăm người, sửa đi sửa lại nhiều lần (bản này sửa đến lần thứ 14), sau mỗi lần sửa, bản dự thảo lại được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong các cuộc hội thảo mà nhiều vị tham gia thiếu sự nghiên cứu nghiêm túc thấu đáo cũng mạnh dạn phát biểu về “đại học đẳng cấp quốc tế”, “đại học top 200″, v.v. Thật ít thấy cách làm việc nào tùy tiện, thiếu nghiêm túc, thiếu khoa học, thiếu chuyên nghiệp hơn mà lại tốn kém như vậy, trong lúc Chính Phủ đang kêu gọi tiết kiệm, chống lãng phí, để góp phần khắc phục các khó khăn kinh tế nghiêm trọng. Khác với hai văn bản trước, dự thảo “Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2009-2010″ xuất phát từ ý tốt muốn mau chóng thay đổi cục diện giáo dục của đất nước ngay trong nhiệm kỳ 10 năm, nhưng chủ quan, không thực tế. Phần quan trọng của dự thảo nói về thực trạng giáo dục của ta và bối cảnh trong nước và quốc tế chưa phân tích được sự không thành công của giáo dục như nhận định trước đây của nguyên Thủ Tướng Phan Văn Khải, mà thiên về chứng minh điều ngược lại. Hai phần tiếp theo nói về các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục và các mục tiêu chiến lược, thể hiện một triết lý giáo dục tuy có được một số yếu tố cấp tiến trên lý thuyết, nhưng về căn bản vẫn chưa thoát ra khỏi tư duy giáo điều trước đây, lại được bổ sung thêm những yếu tố mở đường cho quan điểm thị trường cực đoan phiêu lưu sai lầm (quan điểm 5, phần III)6) mà nếu thực hiện sẽ có tác dụng đẩy giáo dục càng suy thoái xa hơn. Phần V, trên thực tế mới là phần trọng yếu, thực ra chỉ là một bản kế hoạch dài hạn 12 năm, xây dựng duy ý chí theo tư duy và phương pháp kế hoạch hóa tập trung quan liêu thời bao cấp đã phá sản từ những năm đầu 80 thế kỷ trước. Chúng ta đang sống trong thời đại đầy biến động khó lường, năng lực dự báo kinh tế của ta lại rất yếu, dự báo ngắn hạn đã khó, huông hồ dự báo cho 12 năm tới. Mà khi đã không có dự báo kinh tế tin cậy được thì căn cứ vào đâu có thể tính toán chi tiết các chỉ tiêu phát triển giáo dục trong 12 năm tới như trong bản dự thảo? 6*) Có chăng đây chỉ là một bảng uớc muốn tốt đẹp của lãnh đạo, thể hiện phần nào tâm huyết đối với giáo dục, nhưng không thể coi là đã có tính toán cân đối khả năng, nguồn lực và yêu cầu. Hơn nữa, các chỉ tiêu, biện pháp chỉ  nặng về phát triển qui mô dễ gây ấn tượng mà không tính hết các khó khăn và thách thức, xem nhẹ chuyển biến về chất, trong khi cuộc khủng hoảng giáo dục hiện nay trước hết là khủng hoảng về đương lối, triết lý, khủng hoảng về chất.

Cần ghi nhận những tiến bộ hai năm qua đã tạo được một số chuyển biến tích cực, bước đầu kéo giáo dục ra khỏi một số điểm trì trệ lâu ngày. Nhưng đồng thời cũng cần thấy rằng những tiến bộ ấy chỉ mới ở ngoại biên, chưa động tới chiều sâu các vấn đề cốt lõi. Chẳng hạn, tiêu cực trong thi cử chỉ là một mảng nhỏ, thậm chí chỉ là thứ yếu, mà cái gốc là bệnh giả dối thâm căn cố đế của giáo dục, làm sao chỉ bằng phong trào “hai không” mà khắc phục được. Ngay trong thi cử thì cái tiêu cực nhất không chỉ là chuyện quay cóp, gian lận, mà ở chứng bệnh hư học và những lãng phí to lớn nó gây ra cho xã hội. Còn bệnh thành tích thì không chỉ ở thói xấu báo cáo không trung thực kết quả các kỳ thi, mà như đã phân tích ở trên, nghiêm trọng nhất là xu hướng từ trên xuống dưới chạy theo số lượng, bất chấp chất lượng, bất chấp chuẩn mực, đặc biệt là chuẩn mực quốc tế, chạy theo những hoạt động phô trương tốn kém, những thành tích giả tạo. Do đó, còn chưa động tới những vấn đề cốt lõi đó thì chưa thể nói có chuyển biến gì đáng kể về chất.7) Khác nào con bệnh đang đau nhức bên trong các nội tạng mà chỉ được bôi xức ngoài da hay cho uống thuốc giảm sốt, giảm đau, những việc này tuy cần thiết trong một giai đoạn nhưng không chữa được bệnh, hơn nữa nếu kéo dài lâu quá còn có thể làm bệnh trầm trọng thêm.

Tóm lại, bài học kinh nghiệm hai chục năm qua là không thể chấn hưng giáo dục chỉ bằng những cải cách nửa vời, chắp vá, tùy tiện, hay những giải pháp cục bộ, bề nổi, có tính phong trào. Đó không chỉ là ý kiến lẻ tẻ của các nhà giáo dục, khoa học trong nước mà còn là ý kiến chung, kiên trì, kết quả nhiều năm suy nghĩ trăn trở của rất đông các nhà khoa học, giáo dục trong nước, Việt Kiều và nước ngoài đã từng quan tâm, tìm hiểu và gắn bó sâu sắc với nền giáo dục của đất nước ta trong suốt thời kỳ đổi mới.

Vì những lẽ trên, một lần nữa chúng tôi xin nhắc lại lời thỉnh cầu khẩn thiết: đã đến lúc cần thực hiện một cuộc cải cách giáo dục toàn diện, triệt để, nhằm xây dựng lại hệ thống giáo dục từ gốc, tiến tới một nền giáo dục thật sự hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, và tạo tiền đề cho đất nước hội nhập quốc tế thành công.

Đây thật sự là mệnh lệnh cuộc sống, không thể chần chừ. Người dân đã quá mỏi mệt với những vấn nạn kinh niên về học phí, thi cử, sách giáo khoa, chương trình quá tải, v.v…, năm nào cũng bấy nhiêu chuyện lặp đi lặp lại mà đến nay vẫn chưa thấy lối ra có thể tin tưởng được. Nhiều nước tuy giáo dục đang phát triển tốt vẫn thấy cần cải cách để đáp ứng các đòi hỏi mới của thời đại, huống chi chúng ta đã không thành công trong một phần tư thế kỷ qua.

Tuy nhiên, như đã nói rõ trong bản điều trần, cải cách giáo dục là công việc hệ trọng, không thể làm vội vã tùy tiện mà cần phải được chuẩn bị chu đáo, nghiên cứu cẩn trọng để thực hiện từng bước, từng bộ phận, theo một kế hoạch được Quốc Hội thông qua nghiêm túc.

Sau một thời gian dài im lặng trước mọi đề nghị cải cách, nay Bộ GD-ĐT thông báo “Thủ Tướng Chính Phủ sẽ ban hành vấn đề cải cách hệ thống giáo dục quốc dân trong quý 1/2009 để xóa đi tất cả những yếu kém, bất cập trong hệ thống”. 8) Đây là một tin vui, cho biết vấn đề cải cách giáo dục cuối cùng đã được đặt chính thức lên bàn nghị sự của Chính Phủ. Song những tin tức cụ thể kèm theo bản dự thảo chiến lược phát triển giáo dục 2009-2020 khiến dư luận chưa thể yên lòng. Chúng ta có Hiến Pháp, có Quốc Hội, thiết tưởng một công cuộc có tầm quan trọng lớn lao đối với quốc dân như cải cách giáo dục cần phải được nghiên cứu cẩn trọng và thông qua Quốc Hội.

Trong tình hình hiện nay, tốt nhất xin đề nghị Chính Phủ thành lập một tổ đặc nhiệm, độc lập với Bộ GD-ĐT, chịu trách nhiệm trước Chính Phủ xây dựng trong thời hạn tối đa 12 tháng một đề án cải cách giáo dục toàn diện kèm theo một kế hoạch và lộ trình cụ thể để đưa ra lấy ý kiến đóng góp rộng rãi trong nhân dân trước khi trình Chính Phủ và Quốc Hội.

Để công việc thuận lợi và có hiệu quả thiết thực, Tổ đặc nhiệm cần có một nòng cốt gồm một số không nhiều những chuyên gia thật sự có năng lực và thật sự am hiểu giáo dục hiện đại, làm việc toàn thời gian. Bên cạnh đó có môt hội đồng rộng hơn, làm việc nửa thời gian, gồm có đại diện Bộ GD-ĐT, các nhà khoa học, nhà văn hóa, và doanh nhân, do Thủ Tướng Chính Phủ chỉ định, để hỗ trợ Tổ đặc nhiệm trong quá trình soạn thảo đề án. Thành bại của sự nghiệp cải cách giáo duc phụ thuộc phần lớn ở sự lựa chọn đúng đắn thành phần tổ đặc nhiệm và hội đồng này.

5. Một số việc cấp bách cần làm trong khi chưa cải cách

Việc chuẩn bị cải cách có thể mất một vài năm. Trong thời gian đó, cần chú ý một số vấn đề cấp bách cần giải quyết để tạo cơ sở và mở đường chuyển dần sang cải cách một cách thuận lợi. Chúng tôi kiến nghị tạm dừng việc thông qua Chiến lược phát triển Giáo dục 2009-2020 và một số Dự án, Đề án khác có liên quan. Bản điều trần 2004 có đề nghị 3 vấn đề về giáo dục phổ thông và 7 vấn đề về giáo dục đại học. Gần bốn năm qua, tuy các vấn đề này có tiến triển ít nhiều, nhưng đến nay hầu hết vẫn chưa được thật sự giải quyết, do đó vẫn cần được tiếp tục quan tâm. Mặt khác, tình hình kinh tế khó khăn với nhiều thách thức trước mắt đòi hỏi ngành giáo dục cần có những nổ lực đặc biệt góp phần cùng toàn xã hội vượt qua thách thức, khó khăn, biến thách thức thành cơ hội tạo chuyển biến mạnh mẽ chuẩn bị cho công cuộc chấn hưng giáo dục về lâu dài.

Trên tinh thần ấy chúng tôi xin kiến nghị ba giải pháp lớn sau đây, vừa để ngăn chặn xu hướng tha hóa, bước đầu khôi phục lại phẩm chất giáo dục trên ba mặt: đạo đức, thực học, chuẩn mực, vừa để góp phần tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả đầu tư trong giáo dục.

5.1 Cải thiện cơ bản chính sách đối với người thầy, giải tỏa nghịch lý lương/thu nhập, để nhà giáo ở mọi cấp an tâm làm việc, toàn tâm toàn ý với trách nhiệm cao cả của mình.

Sự thật, phần lớn giáo viên nay đã có mức sống không đến nỗi khó khăn như cách đây mấy năm, thậm chí một bộ phận còn có thu nhập khá. Song cái nghịch lý lương/thu nhập vẫn còn y nguyên, mà nguồn thu nhập bù lương vẫn là nguyên nhân gây nhiều tiêu cực nhức nhối. Cần giải quyết vấn đề này một cách minh bạch, qua việc chấn chỉnh quản lý tài chính ngay trong nội bộ ngành giáo dục, rà soát lại để kiên quyết bỏ hay giảm bớt mọi khoản chi tiêu không hiệu quả, trên cơ sở đó tăng lương, bảo đảm lương đủ sống và là thu nhập chính của mỗi người, từ đó lập lại kỷ cương, đạo đức trong giáo dục. Trong các tính toán kế hoạch, hãy đặt vấn đề trước hết bảo đảm đồng lương hợp lý cho mọi giáo viên và công nhân, viên chức trong ngành, sau đó mới xét đến các khoản chi tiêu khác. Nếu ngân sách được cấp cộng các khoản thu khác (do đóng góp của dân, hay do viện trợ, vay mượn quốc tế) không đủ thì mới xin bổ sung ở mức tối thiểu cần thiết nhất. Làm như vậy không cần đợi giải pháp chung cho tất cả các ngành, mà nhân đó còn có thể chống tham nhũng và lãng phí một cách thiết thực hơn. Theo tính toán sơ bộ9), nếu bỏ đi những khoản chi vớ vẩn hoặc không thật sự cần thiết (hội họp, thi đua hình thức, thi dạy giỏi các kiểu, các khoản chi “nâng cao năng lực quản lý”, v.v.) thì hoàn toàn có thể trả lương đàng hoàng cho thầy cô giáo để họ sống được bằng tiền lương. Nếu cần Nhà Nước chi phụ thêm thì cũng chỉ cần phụ thêm một khoản hoàn toàn trong khả năng hiện thực. Ai cũng hiểu đây là việc rất khó, vì tuy khả thi về điều kiện vật chất khách quan nhưng chắc chắn sẽ vấp trở ngại tư tưởng rất lớn vì đụng chạm đến những thói quen, kể cả lãng phí và tham nhũng, đã hình thành và cắm rễ quá lâu trong thời gian qua. Song không làm bây giờ thì sẽ ngày càng khó hơn và có thể chẳng bao giờ có hy vọng trả lại được lòng tự trọng cho giáo dục.

Dù thế nào, trong khi chính sách đối với người thầy còn quá bất cập, nếu chưa làm được gì để cho thầy, cô giáo an tâm thì không nên đưa ra sớm quá những chủ trương gây thêm bất ổn lòng người, như cái tin vừa mới loan báo trong bản dự thảo chiến lược: “xóa bỏ biên chế, chuyển sang hợp đồng trong đội ngũ giáo viên”.  Nếu đây chỉ là thực hiện một nghị định đã có của Chính Phủ thì không nên đưa ra như một sáng kiến của ngành, mà ngay trong trường hợp này cũng nên nghiên cứu cách thực hiện như thế nào cho thích hợp với các đặc thù của giáo dục. Trong khi tiêu cực, tham nhũng còn nặng, mà đồng lương của giáo viên lại quá thấp, việc xóa biên chế khó tạo nên được cạnh tranh lành mạnh mà còn có thể gây thêm bất ổn, có hại nhiều hơn lợi. Ở một số nước phát triển, mọi điều kiện đều thuận lợi hơn ta nhiều, mà chính sách này cũng chỉ mới được đưa ra mấy năm gần đây đối với giảng viên đại học công lập (và cũng không phải áp dụng đồng loạt cho mọi người) vì trong giáo dục và khoa học không phải kiểu cạnh tranh nào cũng tốt cả. Trong giáo dục phổ thông càng nên thận trọng, vận dụng máy móc cơ chế thị trường vào đây có thể đưa đến thảm họa. Sự cạnh tranh lành mạnh ở đây nên được thực hiện chủ yếu qua khâu tuyển dụng, còn sau khi tuyển dụng thì điều cần thiết là tạo điều kiện, môi trường, để giáo viên an tâm phục vụ, vì khác với ở đại học, ngoài việc dạy chữ họ còn phải quan tâm đến nhiều việc mà thiếu an tâm thì không thể làm tốt. Cũng như vậy, trong điều kiện quản lý và sử dụng cán bộ như hiện nay, chủ trương để hiệu trưởng quyết định lương của giáo viên là một việc phiêu lưu, có thể đẻ ra nhiều bất ổn, tiêu cực mới. Trước hết chúng ta hãy nên khiêm tốn làm những điều bình thường nhất mà ở mọi nước văn minh đều đã thành nề nếp (ví dụ: bỏ độc quyền của Bộ về sách giáo khoa), đồng thời cải cách và tăng cường hệ thống đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, để giúp cho giáo viên không những đủ năng lực truyền thụ kiến thức mà còn có khả năng rèn luyện cho học sinh tư duy phê phán, đầu óc sáng tạo và những kỹ năng mềm cần thiết trong đời sống hiện đại.

5.2. Đổi mới căn bản việc học và thi ở THPT, khắc phục giáo dục đồng loạt và xóa bỏ khổ dịch thi cử

Hiện nay từ mẫu giáo đến THCS đã có hệ thống thực nghiệm giáo dục được xây dựng từ gần ba mươi năm nay trên cơ sở những nghiên cứu khoa học nghiêm túc, và đã hoạt động có hiệu quả trên nhiều vùng đất nước. Đã đến lúc cần chính thức mở rộng thực hiện hệ thống đó trong cả nước. Đồng thời để dần dần khôi phục lại thực học trong toàn bộ hệ thông giáo dục, cần một giải pháp đột phá cho việc học và thi ở THPT. Có những lý do sau đây để chọn THPT: 1) THPT là cấp cuối của giáo dục phổ thông, chất lượng ở đây thể hiện chất lượng toàn cấp, đồng thời là chất lượng đầu vào cho ĐH, CĐ trong nước và du học ở nước ngoài; điều này rất quan trọng đối với việc đào tạo đại học, cả trong nước và ngoài nước; 2) việc học và thi ở THPT căng thẳng nhất trong cả hệ thống giáo dục, do hai kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH-CĐ quá tốn kém bất hợp lý, giải quyết tốt khâu này chẳng những nâng cao thiết thực chất lượng học tập mà còn xóa được một nguồn lãng phí lớn về nhân, tài, vật lực; 3) trong cả đời người, tuổi 15-18 là giai đoạn dò dẫm con đường phát triển về cả sinh lý, tâm lý, tình cảm, trí tuệ, là tuổi bắt đầu suy nghĩ về tương lai nghề nghiệp, hình thành xu hướng, sở thích, ước mơ, hoài bão, …, cho nên giáo dục THPT không tốt sẽ để lại cho từng cá nhân cũng như cho cả xã hội dấu ấn nặng nề.

Hệ thống giáo dục THPT hiện tại có hai lãng phí lớn. Lãng phí thứ nhất là hàng năm có một số lớn thanh niên tốt nghiệp THPT không qua lọt cánh cửa ĐH, CĐ, phải bước vào thị trường lao động, chịu bằng lòng với một việc làm đơn giản (không cần tay nghề), dù đã tốn 12 năm đèn sách, hoặc phải chấp nhận vào học nghề ở một trường trung cấp kỹ thuật vốn chỉ đòi hỏi trình độ THCS. Trong khi đó nếu tổ chức tốt hơn hệ thống giáo dục thì chỉ cần 12 năm học tập, thêm một thời gian 6-12 tháng tập việc, cũng hoàn toàn đủ để có được một văn hóa cơ bản và việc làm có nghề. Tình trạng đó vừa gây ra lãng phí lớn cho xã hội vừa tạo tâm lý bất ổn cho thanh niên. Lãng phí lớn thư hai, khó thấy hơn, nhưng nghiêm trọng hơn, là cách học và thi quá lạc hậu ở THPT gắn liền với nạn hư học cổ lỗ, hoàn toàn không chú ý các đặc điểm và đòi hỏi của lứa tuổi, làm phí sức học sinh một cách vô ích, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tâm lý, đến tương lai nghề nghiệp của một số khá đông, lại rất tốn kém cho gia đình và xã hội.10) Ngoài ra chương trình và nội dung từng môn học quá cũ kỹ, chưa giúp rèn luyện cho học sinh khả năng tự học, tự tìm kiếm kiến thức và sáng tạo.

Để khắc phục những bất hợp lý trên cần cải cách việc học và thi trên cơ sở tổ chức lại hệ thống giáo dục để sau THCS có hai nhánh rẽ: trung học nghề, hay trung học phổ thông, học xong nếu không học lên cao hơn (cao đẳng hay đại học) được thì đều có thể đi ngay vào thị trường lao động tìm một việc làm có nghề. Theo hướng đó nên cấu trúc lại chương trình và cách học ở THPT để “tạo nhiều cơ hội lựa chọn cho thế hệ trẻ trên cơ sở bảo đảm một mặt bằng văn hóa chung thích hợp, đồng thời đủ mềm dẻo để cho phép điều chỉnh những sự lựa chọn chưa phù hợp” (bản điều trần 2004, trang 5). Cụ thể là bãi bỏ cách phân ban cứng nhắc như hiện nay11) để tổ chức lại việc học ở THPT như ở nhiều nước tiên tiến, về mỗi môn học đều có một chương trình bình thường và một hoặc nhiều chương trình nâng cao, theo nhiều mức độ nâng cao khác nhau, cho phép học sinh được tự do lựa chọn chương trình nào hợp sức và hợp sở thích, đồng thời đễ dàng điều chỉnh sự lựa chọn khi thấy cần thiết. Chỉ với cách học đó học sinh mới không bị quá tải, vì được học sâu những môn ưa thích và không phải học quá kỹ nhiều thứ mà sau này sẽ chẳng bao giờ cần đến (như chương trình toán THPT hiện nay có quá nhiều phần hoàn toàn không cần thiết sau này cho đại đa số học sinh). Hơn nữa về những môn hợp xu hướng sở thích thì có cơ hội được học đủ sâu để đến khi tốt nghiệp THPT có đủ hiểu biết để tìm được việc làm có nghề, và nếu xuất sắc thì khi học tiếp lên ĐH hay CĐ có thể học vượt lớp, tiết kiệm thời gian. Tuổi 15-18 là tuổi vàng, nhiệm vụ của nhà trường là tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát triển đến mức tối đa của mình, chứ không phải chỉ nhằm bảo đảm cho mọi cá nhân môt mức tối thiểu đồng loạt như cách dạy hiên nay ở THPT.

Đồng thời với cách học, thì cách thi cử và đánh giá cũng phải thay đổi. Trong một nhà máy làm ra một sản phẩm gồm nhiều bộ phận riêng rẽ (môđun) ghép lắp lại, người ta phải kiểm tra kỹ chất lượng khi sản xuất từng bộ phận, đến khi lắp ráp chỉ kiểm tra chất lượng lắp ráp. Việc học và thi trong nhà trường cũng vậy: mỗi môn, mỗi học phần như một môđun, học môn nào, học phần nào phải kiểm tra, thi nghiêm túc môn đó, phần đó, đến cuối cấp không thi lại nữa, mà chỉ phải làm một tiểu luận hoặc qua một kỳ thi nhẹ nhàng, với mục đích kiểm tra trình độ văn hóa phổ quát thu nhận được (giống như chất lượng lắp ráp các môđun). Hơn nữa, kỳ thi nhẹ nhàng này cũng có thể không bắt buộc cho mọi người mà có thể coi như một kỳ thi sơ tuyển (ST) vào ĐH, CĐ chỉ bắt buộc đối với những ai muốn vào học ĐH, CĐ.  Còn việc tuyển sinh vào ĐH, CĐ thì cần trả lại cho từng trường. Mỗi trường tuyển sinh căn cứ vào kết quả thi (ST) và học bạ hoặc qua một kỳ thi tuyển nếu trường nào có yêu cầu đào tạo đặc biệt.

Với cách học và thi ở THPT được tổ chức lại hợp lý, sẽ bỏ được kỳ thi THPT tốn kém (tiết kiệm ít ra hàng nghìn tỉ đồng cho một kỳ thi), đồng thời việc tuyển sinh cũng được hợp lý hóa để giảm bớt chi phí và đỡ căng thẳng cho thí sinh. Chất lượng đầu vào cho ĐH, CĐ trong nước hay chất lượng học sinh VN gửi đi du học các nước ngoài sẽ nhờ đó được nâng cao đáng kể.

5.3. Xây dựng mới một hay hai đại học đa ngành hiện đại, đạt các chuẩn mực quốc tế về mọi mặt, làm hoa tiêu thúc đẩy toàn ngành đại học hội nhập với thế giới

Mối nguy hại của việc phát triển giáo dục bừa bãi bất chấp chuẩn mực đã quá rõ khi hội nhập, buộc chúng ta phải thay đổi nhận thức và tìm mọi cách khắc phục tình trạng đó. Song cái khó là vì đã bỏ qua chuẩn mực một thời gian quá lâu, không chỉ trong giáo dục mà cả trong khoa học, nên chúng ta rât thiếu những nhà quản lý thật sự am hiểu các chuẩn mực phát triển giáo dục, khoa học hiện đại. Thời gian qua cho thấy nhận thức của phần đông các nhà quản lý ở lĩnh vực này có nhiều mặt phiến diện, xa thực tế, nói chung rất chủ quan trong hàng loạt vấn đề quan trọng liên quan việc đào tạo tiến sĩ, công nhận các chức vụ GS, PGS, đánh giá các công trình khoa học, đánh giá chất lượng đại học nói chung.  Chỉ xem trong vấn đề đại học đẳng cấp quốc tế, đại học thuộc top 200, cũng đủ thấy rõ sự hiểu biết của cơ quan quản lý của chúng ta về giáo dục đại học hiện đại trên thế giới còn quá thô sơ, quá xa thực tế. Trong tình hình đó, khó có thể khắc phục tình trạng phát triển bừa bãi và khó khôi phục được trật tự, chuẩn mực chỉ bằng công tác kiểm định và xếp hạng. Bằng chứng là trong ba năm 2005-2008 đã tiêu tốn một số tiền không nhỏ (gần 1,5 triệu Euro) cho dự án đảm bảo chất lượng đại học, nhưng đến nay công tác này vẫn rất lúng túng chưa có kết quả gì rõ ràng. Cùng với những khoản chi tiêu về khảo thí, các khoản chi tiêu về kiểm định và xếp hạng đã ngốn hết bao nhiêu phần ngân sách và đã đưa lại những kết quả gì thiết thực giải quyết vấn đề chất lượng đại học Việt Nam, có lẽ đây là lúc cần nhìn lại tỉnh táo hơn trước khi lao vào những dự án đầu tư mới.

Tốt hơn nên tập trung cố gắng xây dựng cho mỗi bậc học, ở mỗi địa phương, một số đơn vị thật sự đáp ứng các chuẩn mực, lấy đó làm hoa tiêu, cung cấp kinh nghiệm phổ biến rộng dần ra. Về giáo dục phổ thông, từ mẫu giáo đến THCS đã có hệ thông thực nghiệm giáo dục, còn THPT thì sắp tới nên xúc tiến từng bước đổi mới như trên đã nói. Riêng về đại học, vấn đề phức tạp hơn, phải mất nhiều năm mới chấn chỉnh được tình trạng rối ren hiện nay. Một mặt cần nâng cấp một số đại học lớn sẵn có, việc này đòi hỏi phải có thời gian, vì nếu làm tốt cũng phải mất không ít hơn mươi lăm năm mới có thể nâng được một đại học hiện có lên đẳng cấp quốc tế (kinh nghiệm ĐHQG Hà Nội thành lập đã mười mấy năm rồi nhưng còn kém xa các đại học loại tốt trong khu vực). Mặt khác cần bắt tay xây dựng mới một hai đại học đa ngành thật hiện đại, theo các chuẩn mực quốc tế, có tính chất làm “hoa tiêu” cho toàn bộ công cuộc hiện đại hóa đại học. Ý kiến này đã được đề xuất trong bản điều trần 2004, và đã được Thủ Tướng Phan Văn Khải chấp thuận, nhưng đến nay chưa làm được bao nhiêu. Ngay đến quan niệm cơ bản về mục tiêu “đại học đẳng cấp quốc tế” hay “đại học lọt vào top 200 trên thế giới” hiện cũng còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng, chưa xác định, chưa ổn. Với tác phong làm việc lề mề như vậy, chúng ta dễ để vuột hết mọi cơ hội.

Để hiểu rõ những việc cần làm, và làm như thế nào, điều đầu tiên là cần xác định đúng đắn yêu cầu, chuẩn mực của một đại học “đẳng cấp quốc tế”. Còn chuyện đại học thuộc top 200 thì xin đề nghị tạm gác lại, vì mục tiêu quá mơ hồ hoặc không thực tế, dễ đánh lạc hướng cố gắng của chúng ta, làm chúng ta sao nhãng những nhiệm vụ cần kíp, thiết thực khác.

Cũng giống như khái niệm “chuyên gia tầm cỡ quốc tế” khái niệm “đại học đẳng cấp quốc tế”  tuy không thể định nghĩa hoàn toàn chặt chẽ, chính xác, nhưng cũng không phải quá mập mờ, tùy tiện. Điều không may là chúng ta không có nhiều chuyên gia tầm cỡ quốc tế, cho nên khái niệm đại học đẳng cấp quốc tế dễ bị dung tục hóa. Với tình hình đó, dễ có quan niệm quá đơn giản về chuẩn mực một đại học đẳng cấp quốc tế, nên dễ coi thường các khó khăn và dễ đặt mục tiêu xa vời, thiếu thực tế. Cần xác định rõ một đại học đẳng cấp quốc tế là một đại học đạt các chuẩn mực vào loại trung bình ở các nước phát triển về các phương diện chủ yếu: cơ sở hạ tầng (khuôn viên, giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm, sân vận động, ký túc xá, …), tỉ lệ giảng viên/sinh viên, trình độ khoa học của tập thể giảng viên12), trình độ sinh viên nhập học, trình độ sinh viên tốt nghiệp và thành tựu trong công tác của họ khi vào đời, thành tựu khoa học của từng cá nhân và của cả tập thể giảng viên trong mươi năm gần đây nhất, mức độ hợp tác quốc tế, mức độ tham gia của tập thể giảng viên vào các hoạt động học thuật quốc tế (tạp chí quốc tế, hội thảo quốc tế, …).­­ Hơn nữa, về mỗi chuyên ngành phải có ít ra 3-4 chuyên gia tầm cỡ quốc tế làm nòng cốt 13). Như vậy ngay một lúc không thể xây dựng hết tất cả các khoa (chuyên ngành) mà lúc đầu chỉ nên mở một số ít chuyên ngành lựa chọn rồi sau mở rộng dần. Điều quan trọng là mở ngành nào nhất thiết đều phải hội đủ tiêu chuẩn quốc tế một cách nghiêm túc. Ban đầu có thể chỉ có cấp thạc sĩ, tiến sĩ, sau đó dần dần có cả cấp cử nhân, kỹ sư. Quy mô ban đầu có thể chỉ cần mấy trăm sinh viên, rồi tăng dần đến khoảng 10 nghìn. Chỉ nên tập trung khả năng và phương tiện xây dựng một hai đại học đẳng cấp quốc tế từ nay đến 2020. Không nên tham vì nếu thất bại một lần thì không chỉ lãng phí tiền của mà còn gây khó khăn về sau.

*

*    *

Từ sau Nghị quyết TƯ II khóa 8 toàn dân đang mong đợi từng ngày những chuyển biến cách mạng trong giáo dục, như lời Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu, để đáp ứng nguyện vọng học tập thiết tha của mỗi gia đình và yêu cầu bức thiết của công cuộc phát triển đất nước.

Chúng ta đang bước vào một thế giới và một thời đại đầy thách thức đối với trí tuệ và tài năng của các dân tộc. Lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm chứng tỏ tiềm năng trí tuệ và tài năng của dân tộc ta không thiếu. Song muốn đánh thức tiềm năng đó rất cần một nền giáo dục hiện đại dựa trên một triết lý giáo dục tiên tiến, nhằm trước hết hoàn thiện con người như một chủ thể chứ không phải một phương tiện. Rất mong chúng ta sẽ không trả giá quá đắt để học bài học đó từ các nước đi trước và có quyết sách đúng đắn, kịp thời, chấn hưng giáo dục để chấn hưng đất nước, tranh thủ thời cơ mau chóng vươn lên đuổi kịp thế giới, thực hiện trách nhiệm đối với các thế hệ hiện nay và mai sau, và đối với di sản quý báu của các thế hệ tiền bối.

Viện Nghiên cứu Phát triển IDS


1) Phạm Duy Hiển: “Đại học hàng đầu ở Thái Lan và Việt Nam”, tạp chí Tia Sáng số 2,20/1/2007

1*) Nói thế không có nghĩa chỉ cần giải tỏa cái nghịch lý lương/thu nhập thì mọi việc sẽ ổn, mà chỉ có nghĩa: không làm việc này thì không khắc phục được những tiêu cực khác, làm việc này là điều kiện cần, sine qua non, nhưng đương nhiên không đủ. Sự thật là cái nghịch lý này đã kéo theo nhiều cái tiêu cực khác, rồi đến lượt các tiêu cực này dần dần có con đường phát triển riêng, có phần phụ thuộc có phần độc lập cái nghịch lý kia, vì đã trở thành thói quen khó bỏ. Đó là chưa kể ảnh hưởng của nhiều tiêu cực trong hệ thống lớn (xã hội). Cho nên, phải sửa chữa nhiều lỗi trong hệ thống lớn (xã hội) nữa, và đi đôi với phá, phải có xây thì dần dần mới ổn. Tuy nhiên, trong phạm vi giáo dục, đây đúng là một lỗi hệ thống cơ bản.

2) Theo trình bày của Bộ GD-ĐT (http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2008/12/818314/), đến 2020 mỗi đại học ấy sẽ có 50% giảng viên trở lên có bằng tiến sĩ, mỗi cán bộ có ít  nhất 2 công bố trên tạp chí quốc tế uy tín, … . Nêu chỉ vậy chưa thể coi là “đẳng cấp quốc tế”, càng không thể thuộc top 200 trên thế giới, mà mới chỉ là loại kém đối với một nước, chưa nói đến quốc tế. Chúng ta đã phạm sai lầm lớn hạ thấp chuẩn mực để có hàng vạn tiến sĩ, hàng nghìn PGS, GS, với hậu quả như thế nào mọi người đã biết. Giờ đây lại hạ thấp chuẩn mực để chóng có nhiều đại học đẳng cấp quốc tế và  đại học lọt vào top 200 trên thế giới ? Đương nhiên phấn đấu để ta sớm có đại học đẳng cấp quốc tế là cần thiết, nhưng phải thực chất. Còn nếu chạy theo một mục tiêu chính đáng, nhưng chỉ chú trọng hình thức, số lượng, thì sẽ vung phí tiền của mà sẽ xao lãng những việc cần kíp khác. Các bảng xếp hạng tung ra trên thế giới mấy năm gần đây chỉ mới có tính chất thương mại, quảng cáo,  nên theo dõi để tham khảo, nhưng lọt vào top 200 trong các bảng ấy chẳng để làm gì. Từng có một đại học của một nước được xếp hạng cao bất ngờ, hỏi ra chỉ là do …  “quan hệ” giỏi, liệu ta có định “chạy” để len vào top 200 theo kiểu đó ? Còn nếu lọt vào top 200 một cách xứng đáng thì mục tiêu ấy không hiện thực, đến 2020 khó có thể đạt được.

3) Theo quy định của Bộ tài chính, không gian và phương tiện làm việc của những giáo sư và nhà khoa học hàng đầu của đất nước cũng kém hơn trưởng, phó phòng. Chi cho xây dựng trụ sở, trang thiết bị phòng làm việc, phương tiện làm việc của các quan chức thì thoải mái, nhiều nơi hơn cả ở các nước giàu, nhưng chi cho xây dựng thư viện, chỗ làm việc của giáo sư, giáo viên rất khó khăn. Trong thang lương do bộ nội vụ xây dựng, bậc cao nhất của giáo sư (và nhà khoa học) thấp hơn bậc thấp nhất của “chuyên gia cao cấp”, thù lao giờ dạy cũng tính theo chức vụ hành chính: bộ, thứ trưởng cao nhất rối mới đến giáo sư, phó giáo sư, v.v.  Những ví dụ này thường được cho là chi tiết lặt vặt không đáng quan tâm, nhưng thật ra thể hiện cách nhìn của lãnh đạo đối với giáo dục, thật hơn mọi nghị quyết.

4) Chẳng hạn mục tiêu “đào tạo con người yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội …”  có thể giải thích theo nhiều cách khác nhau, và muốn an toàn nhiều người thường chọn cách giải thích y hệt 50-60 năm trước, thời đấu tranh giai cấp “ai thắng ai”, “tiến nhanh tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội”. Khi nhìn nhận rằng tư duy chậm đổi mới thì cũng chỉ nhấn mạnh chậm ở chỗ chưa thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà nhận định này lại cũng chỉ được dùng để biện minh cho xu hướng tự do hóa giáo dục cực đoan, phát triển ồ ạt trường tư thục kinh doanh giáo dục kiếm lời đơn thuần vô trách nhiệm.

5) Xem “Đề án cải cách giáo dục: Phân tích và đề nghị của nhóm nghiên cứu giáo dục VN”(Hồ Tú Bảo, Trần NamBình, Trần Hữu Dũng, Ngô Vĩnh Long, Trần Hữu Quang, Hồng Lê Thọ, Trần Văn Thọ, Hà Dương Tường,Vũ Quang Việt, Nguyễn Xuân Xanh, Võ Tòng Xuân).

6) Một số biện pháp quản lý doanh nghiệp trong cơ thế thị trường có thể vận dụng vào quản lý các đại học để nâng cao hiệu quả hoạt động, nhưng phần lớn các biện pháp đó cũng đòi hỏi một môi trường giáo dục lành mạnh mà ta chưa có và chưa thể có trong mấy năm tới. Quan điểm 5 này quá ngây thơ.

6*) Ví dù có thông tin dự báo chính xác thì do nguồn lực có hạn, các chỉ tiêu đều phụ thuộc lẫn nhau, không dễ gì tính toán khoa học được một kế hoạch khả thi theo dự báo đó. Còn nếu chỉ bấm độn để tính toán thì càng xa thực tế.

7) “Bệnh thành tích và tiêu cực trong thi cử” sau hai năm chống có kết quả bước đầu, nay đang có chiều hướng quay trở lại, như đã thấy rõ qua kêt quả tổng kết các kỳ thi 2008.

8 ) Theo tin http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2008/12/818768/

9) Theo “Đề án cải cách giáo dục” của nhóm nghiên cứu giáo dục Việt Nam, đã dẫn.

10) Sinh viên ta du học ở các nước ngoài thường học giỏi những năm đầu, nhưng những năm sau, khi đòi hỏi sáng tạo và chủ động nhiều hơn thì mau đuối sức. Nguyên do là lối học nhồi nhét ở THPT trong nước đã làm họ mệt mỏi, không bền sức, kém chủ động, sáng tạo khi lên học đại học. Trong nước, có hiện tượng nhiều sinh viên khi lên đại học không chăm chỉ, say sưa học tập như lúc ở THPT, một phần do cách dạy ở đại học nhưng phần khác cũng do những năm ở THPT đã phải cố gắng quá sức.

11) Cách phân ban từ 2007 đến nay tuy có mềm dẽo hơn trước (nhờ có ban cơ bản) nhưng vẫn còn rất cứng nhắc đối với hai ban KHTN và KHXH và không hiệu quả đối với ban cơ bản.

12) Để tham khảo có thể lấy ví dụ về chuyên ngành toán: nói chung (không kể ngoại lệ) trợ giảng phải là tiến sĩ giỏi, có ít  nhất 5-7 công trình công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín trong chuyên ngành, PGS đã từng là trợ giảng giỏi khoảng 5 năm, có ít nhất 15-20 công trình, GS đã từng là PGS giỏi, có khoảng 30-40 công trình. Đó là nói về định lượng, còn phải xét định tính từng trường hợp cụ thể, dựa trên sự thẩm định khách quan của các chuyên gia giỏi trong chuyên ngành.

13) Chuyên gia tầm cỡ quốc tế được hiểu là người có uy tín quốc tế trong chuyên ngành của mình. Trái với quan niệm phổ biến hiện nay, ta hiện chưa có nhiều chuyên gia như vậy trong từng chuyên ngành. Nhiều nhà khoa học trong nước rất nổi tiếng rồi được coi như chuyên gia tầm cỡ quốc tế, nhưng tên tuổi trên quốc tế lại ít được biết đến. Dù không có tiêu chí thật chính xác, nhưng một chuyên gia tầm cỡ quốc tế phải có những thành tựu khoa học được biết đến rộng rãi trong cộng đồng quốc tế về chuyên ngành đó, thể hiện ở mức độ được trích dẫn trên các tạp chí quốc tế.

(Number2.tk tổng hợp từ Internet)




Số người đang online cùng bạn

Photobucket

AVATAR – http://number2.tk

Photobucket

Admin

Xin vui lòng liên hệ qua E-mail: hinhanhblog@gmail.com Thân ái! Numbertwo's blog
PhotobucketPhotobucket

Blog Stats

  • 520,845 lượt truy cập
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket

Đọc báo – Tin mới nhất trên các báo

RSS BBC – Diễn đàn

PhotobucketPhotobucket
Photobucket
Photobucket

RSS Làm đẹp

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Photobucket
Photobucket

RSS Văn hóa – NLĐ online

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket

RSS Sống đẹp – Sức trẻ VN

Photobucket

RSS Yêu – Sức trẻ VN

Photobucket

RSS Home – Kênh 14

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Star – Kênh 14

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Photobucket

RSS Thời trang – Kênh 14

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Photobucket
Photobucket
Photobucket