Lưu trữ của chuyên mục 'Lịch sử'

13
Tháng 3
09

Quá trình đấu tranh giành độc lập của Đài Loan

Quá trình đấu tranh giành độc lập của Đài Loan

Pol

Sơ lược lịch sử các dân tộc Trung Quốc

Từ thời Tần Thủy Hoàng thống nhất 7 nước Chiến Quốc (Yên, Sở, Ngụy, Tề, Thục ..v.v..) và sau đó đó là Trung Quốc (chữ Trung Quốc do thời Tần Thuỷ Hoàng phát minh ra – và bắt đầu sự nghiệp Hán hóa), thì đó chỉ là một vùng nhỏ nằm giữa sông Hoàng Hà và Dương tử ngày nay. Diện tích chỉ khoảng bằng 1/6 Trung Quốc ngày nay.

Sau đó Tần Thủy Hoàng mới cho quân vượt sông Dương Tử đánh chiếm bách Việt (Hoa Nam) nảm về phía nam của sông Dương Tử. Như Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Châu, Quý Châu ..v.v..

Từ Hoa Nam ngoài ám chỉ khu vực Bắc Nam Trung Hoa thời phong kiến, nhưng lại trùng hợp cho 2 nhánh tộc, khu vực Hoa Nam hoàn toàn là khu Bách Việt dưới sông Dương Tử, còn Hoa Bắc là khu vực người Hán (giữa sông Dương Tử và Hoàng Hà). Từ đây sẽ tôi dùng từ Hoa Nam thì xin các bạn hiểu là vùng của Bách Việt ngày xưa, và Hoa Bắc là vùng của tộc Hán.

Cả vùng Hoa Bam và Hoa Bắc của Trung Quốc 1/6 kia, thì có rất nhiều ngôn ngữ, như Phúc Kiến, Quảng Đông (cả Quảng Tây), Việt Nam, Vân Nam, Quý Châu ..v.v.. đều có ngôn ngữ riêng. Và hiện nay các vùng đó vẫn còn giữ ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, dù từ hơn 2 ngàn năm nay bị Hán hoá, hay Nguyên hóa, hay Mãn hóa (dĩ nhiên trừ Việt Nam vì đã “Nước Nam vua Nam ở” thời Lý Thường Kiệt).

Vùng Hoa Bắc cũng thế, cũng có nhiều thứ tiếng, nhưng nay đã “gần như mất hết”, chỉ còn một ngôn ngữ chính là Phổ Thông. Và trớ trêu thay, tiếng Phổ Thông lại không phải là 1 trong các ngôn ngữ tộc Hán, mà là ngôn ngữ của tộc Mãn (Thanh). Dù hơn 2 ngàn năm tộc Hán tìm đủ cách Hán hóa Hoa Nam, nhưng chỉ trong 300 năm Mãn hóa, thì tộc ngôn ngữ tộc Hán lại mất trước.

Vùng cực bắc Trung Quốc ngày nay là bộ tộc Bột Ngạt, bị bộ tộc Nữ Chân (Mãn Thanh) sau này thôn tính. Bộ tộc Nữ Chân mà sau này là Mãn Thanh (xưng nước là Mãn Châu quốc – Manchu) là nước có thủ đô là Bắc Kinh đầu tiên trên đất nước Liêu. Đất Liêu lúc đó ngoài bộ tộc Nữ Chân còn có một bộ tộc khác là Khiết Đan, bộ tộc Khiết Đan hùng mạnh trước, thành lập nước là nước Liêu (kinh đô không phải Bắc Kinh mà là Thẩm Dương ngày nay – khá xa về hướng đông bắc của Bắc Kinh). Sau này bộ tộc Nữ Chân mạnh lên tiêu diệt Khiết Đan, rồi đặt tên nước là Đại Kim sau đó thôn tính luôn Bột Ngạt ở phía cực đông bắc và đặt kinh đô là Bắc Kinh năm 1115. Tiếng Nữ Chân (Mãn Châu sau này) và Bắc Kinh là một.

Sau đó Đại Kim bị Mông Cổ đánh bại, và Mông Cổ chiếm luôn Trung Quốc, đô hộ cả hai nước trong 200 năm. Mông Cổ cũng dùng Bắc Kinh làm kinh đô từ năm 1206.

Về sau Chu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ – Nhà Minh) nổi dậy đuổi được Mông Cổ và dùng Nam Kinh làm kinh đô năm 1368. Khi Chu Nguyên Chương đuổi được Mông Cổ thì nhà Minh thừa hưởng luôn nước Đại Kim đang bị Mông Cổ cai trị.

Chu Nguyên Chương giống Tần Thủy Hoàng, rất e dè quân Mông. Sau khi đuổi quân Mông đi rồi thì ra lệnh tu sửa lại hết Vạn Lý Trường Thành có từ thời Tần, đặc biệt khu vực Bắc Kinh ngày xưa thuộc Đại Kim nằm rất xa ngoài Vạn Lý Trường Thành thời Tần, thì Chu cho xây thêm một nhánh bao bọc cả nước Đại Kim đã thừa hưởng được từ Mông Cổ.

Đến đời cháu Minh Thái Tổ thì lại dời đô từ Nam Kinh về Bắc Kinh (để dễ quản lý Đại Kim chăng?).

Nhưng sau này Nỗ Nhĩ Cáp Xích lãnh Đạo bộ tộc Nữ Chân nổi dậy (không lấy tên là Kim nữa mà lấy tên mới là Mãn Thanh), ông có công lớn thành lập Bát Kỳ Binh của bộ tộc Nữ Chân đã đánh tan nhà Minh và chiếm luôn Trung Quốc 300 năm cho đến năm 1910 (Cách mạng Tân Hợi).

Nỗ Nhĩ Cáp Xích (sau này là Thanh Thái Tổ) dùng kinh đô Đại Kim xưa là Bắc Kinh, và tiếng Bắc Kinh là tiếng chính thức của Trung Quốc ngày nay như có nói ở trên.

Xin nói thêm về Bát Kỳ Binh của Mãn Thanh, mà sau này Mao cũng có Bát Lộ Quân (bắt chước Mãn Thanh?). Bát Kỳ Binh (Bát: 8, Kỳ: cờ), là đội quân chính quy hùng mạnh của Mãn Thanh, chia làm 8 đội binh mỗi đội có một màu cờ khác nhau. Quân sĩ được trang bị tận răng, đầu đội nón sắt, mình mặc giáp sắt, mặt được che bằng lưới sắt, thậm chí ngựa cũng được mặc giáp sắt, khi xung trận thì cầm thương dài không thua kỵ binh Mông Cổ.

Vì là ngôn ngữ chính cho triều đình, nghĩa là ngôn ngữ cho quan lại do đó người ta gọi là tiếng Quan Thoại (Quan đối thoại), từ tiếng của Quan, dần dần dân chúng dùng để trao đổi giữa các vùng miền, và lâu dần không còn riêng cho Quan lại nữa mà thành Phổ Thông, rồi cuối cùng gọi là tiếng Bắc Kinh cho gọn, vì đó là tiếng vùng Bắc Kinh.

Khi Mãn Thanh chiếm được Trung Quốc, thì họ rất hà khắc, bắt dân Trung Quốc phải cạo nữa đầu, tết đuôi sam và theo tục của Mãn. Thậm chí ở một vùng của Hà Bắc dân không chịu theo và chỉ trong một ngày lính Mãn Thanh chém 80.000 (tám chục ngàn) người.

Cũng trong lịch sử Trung Hoa, chưa bao giờ có một sự thay đổi triều đình mà dân chạy ra nước ngoài như triều Thanh vì quá hà khắc. Hoa kiều đi khắp thế giới chủ yếu từ khi Mãn Thanh chiếm Trung Quốc.

Triều đình Mãn Thanh đặc biệt khống chế và đồng hóa vùng Hoa Bắc (Hán) nghiêm khắc. Không biết vì lý do đó, hay vì gần Bắc Kinh hơn mà ngôn ngữ Hán vùng Hoa Bắc gần như chết hết, bây giờ dân chỉ nói tiếng Bắc Kinh. Còn dân vùng Hoa Nam (Việt) thì bây giờ còn giữ được tiếng địa phương.

Ngoài ra, Mãn Thanh xem Trung Quốc lúc đó là dân mọi rợ, và con trai Hán không được lấy gái Mãn, mà chỉ có con trai Mãn thì được lấy gái Hán tùy thích, nhưng khoảng 100 năm sau này thì trai gái Mãn Hán lấy nhau tự do.

Khác với quân Nguyên (Mông Cổ), khi đô hộ Trung Quốc (200 năm) vì Trung Quốc đất rộng người đông, nên không thể không dựa vào quan lại địa phương để cai trị, nhưng nhà Nguyên không bao giờ tin quan lại địa phương, nên dùng người Hồi địa phương để theo dõi khống chế. Dĩ nhiên sẽ được ưu đãi. Còn Mãn thì dùng quan lại dân tộc thiểu số mà ngày trước bị Hán đè đầu để theo dõi khống chế.

Có một sự trùng hợp là từ khi Mao thành công, và chiếm luôn nước Mãn Thanh ngày xưa. Thì từ đó đến nay, lãnh đạo chủ chốt của Cộng sản Trung Quốc đều là người xuất thân từ vùng Hoa Bắc (Hán) như Mao, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Ôn Gia Bảo, Hồ Cẩm Đào …

Dù vùng Hoa Nam chiếm một nửa Trung Quốc ngày nay. Và cũng có rất nhiều “đồng chí” vùng Hoa Nam tham gia cách mạng Trung Quốc ngay từ đầu.

Lịch sử Trung Quốc rất rối rắm. Nhưng một thực tế là tiếng Bắc Kinh không phải là tiếng Hán mà là tiếng Mãn Thanh. Và tiếng Hán đã bị triệt tiêu bởi Mãn, nhưng tộc Mãn đang bị “Hán cai trị”.

Đài Loan: một hòn đảo không được đoái hoài

Các đời Tần Thuỷ Hoàng, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Mãn Thanh… chỉ tập trung vào lục địa, còn Đài Loan là một hòn đảo nghèo, ít dân cư, giao thông khó khăn nên chẳng ai thèm để ý, các triều đại chỉ cho một vị quan và ít lính ra trấn nhậm.

Theo tập tục phong kiến ngày xưa thì các tầng lớp trong xã hội được xếp hạng là theo thứ tự: Sĩ, Nông, Công, Thương. Còn Ngư Phủ là hạng thấp hơn, ít ai nhắc đến. Dù đảo Đài Loan không lớn nhưng cũng có diện tích tương đối, có thể làm nông, trồng trọt, chăn nuôi … nhưng ngư phủ thì thông dụng hơn. Và dân trong Đại Lục ra đảo chỉ là dân Phúc Kiến và là thành phần nghèo kiếm sống.

Do đó, có thể nói dân Đài Loan cho đến thời điểm năm 1945 gần như là thuần chủng Mân Việt. Trong lục địa, thì các tộc Việt khác như Mân Việt (Phúc Kiến), Âu Việt (Quảng Đông) … có thể ít nhiều có bị Hán hóa, hoặc Nguyên hoá, hoặc Mãn hóa. Nhưng Đài Loan có thể nói là rất còn “nguyên thuỷ” Mân Việt cho đến năm 1945.

Quá trình đấu tranh đòi độc lập trong thập niên 1980

Đài Loan (Taiwan) hay còn được gọi là Formosa (Hòn đảo đẹp – do thương nhân Bồ Đào Nha đặt tên vào thế kỷ 17, 18 khi phát hiện và trao đổi buôn bán). Đài Loan bị Phát xít Nhật chiếm đóng đô hộ vào khoảng năm 1895 cho đến khi Nhật đầu hàng Mỹ tháng 8 năm 1945.

Khi Nhật đầu hàng, khoảng trống quyền lực của Đài Loan được Tưởng Giới Thạch nhanh chóng cho quân từ Đại Lục ra đảo chiếm giữ. Quân Tưởng từ Đại Lục ra nắm quyền khá hà khắc với dân bản địa, bắt họ phải nói tiếng Phổ Thông (Bắc Kinh), trường học phải dạy tiếng Phổ Thông, tiếng Phúc Kiến bản địa không được dạy, lấy đất cho dân Đại Lục mới sang… Dân bản địa nổi dậy chống đối mạnh mẽ, và đã bị quân Tưởng thẳng tay đàn áp, giết chết mấy chục ngàn người vào năm 1947 .

Đến năm 1949, sau khi bị Mao đánh bại hoàn toàn, Tưởng dẫn tất cả tàn quân và gia đình binh sĩ, dân chúng không theo cộng sản ra Đài Loan. Tưởng là một chiến tướng với bàn tay sắt, thất bại của ông ta là đã để xổng cho Mao chạy thoát về Diên An. Từ lúc mới chạy ra đảo Đài Loan 1949, Tưởng cứ nghĩ là sẽ có ngày tái chiếm lại Lục Địa. Do đó, Tưởng rất nghiêm khắc về cách tổ chức, tiếng Phổ Thông (Bắc Kinh) phải được phổ biến từ trường học ..v.v.. tiếng địa phương không được dạy, tuyển mộ quân đội, lấy đất ưu đãi cho binh lính, gia đình lính, dân chúng từ Đại lục chạy sang.

Cho đến ngày nay thì tỷ lệ dân chính gốc Đài Loan là khoảng 85%, còn dân gốc từ Đại Lục là khoảng 15%, và hầu hết 85% dân chính gốc Đài Loan muốn độc lập thành 1 nước riêng. Họ không công nhận họ là người Hán, mà là Đài Loan (Mân Việt).

Khoảng cuối thập niên 1970s và đầu thập niên 1980s, dù dưới bàn tay sắt của quân phiệt Tưởng Giới Thạch nhưng phong trào Độc Lập bắt đầu manh nha, những nhóm đòi độc lập bắt đầu đấu tranh âm thầm. Họ bị bắt, bị giết, trù dập dã man, trong đó nổi tiếng nhất là ông Thi Minh Đức, được xem là Nelson Mandela của Taiwan (bị tù hơn 20 năm, được thả dưới thời tổng thống Lý Đăng Huy).

Tưởng Giới Thạch và vợ là Tống Mỹ Linh có 2 người con trai là Tưởng Kinh Quốc (con ruột), và Tưởng Vĩ Quốc (con nuôi).

Năm 1975, Tưởng Giới Thạch mất, Tưởng Kinh Quốc “nối ngôi” tổng thống, dân Đài Loan xầm xì, Kinh Quốc có tuyên bố: “sau Tưởng Kinh Quốc sẽ không có giòng họ Tưởng làm tổng thống nữa”.

Khi Tưởng Kinh Quốc mất vì bệnh (con trai còn rất nhỏ), Tưởng Vĩ Quốc (con nuôi) muốn mẹ nuôi là Tống Mỹ Linh đưa lên làm tổng thống. Nhưng bị Lý Đăng Huy chiếm mất. Và Lý Đăng Huy chính là người gốc Đài Loan đầu tiên làm tổng thống của Đài Loan, sau nhiều thập kỷ họ Tưởng Đại Lục cai trị.

Và chính Lý Đăng Huy dù là đảng viên Quốc Dân Đảng nhưng đã âm thầm tạo điều kiện cho các đảng Đài Loan như Dân Tiến Đảng, mà sau này ông Trần Thuỷ Biển của Dân Tiến Đảng làm tổng thống 2 nhiệm kỳ (lần đầu tiên Quốc Dân Đảng không nắm quyền sau nhiều thập niên). Phải nói thêm, Nếu không có Lý Đăng Huy làm tổng thống, thì không có đảng nào được hoạt động ngoài Quốc Dân Đảng (độc đảng).

Chính phủ Trung Quốc rất căm ghét ông Lý Đăng Huy, từ xưa tới nay Trung Quốc luôn dùng những lời lẽ hằn học, thoá mạ để nói về người này. Dù ông ta đã già và đã nghỉ hưu, Trung Quốc gọi ông ta là kiến trúc sư cho Đài Loan đòi độc lập. Và hiện tại ông ta vẫn còn nhiều ảnh hưởng với chính trường Đài Loan.

Phải công nhận đây là một chính trị gia tài ba kiểu Á Đông. Cái tài của ông là đã loại được Tưởng Vĩ Quốc khi Kinh Quốc mất và chiếm được cảm tình của Tống Mỹ Linh.

Lý Đăng Huy và Đài Loan độc lập

Lý Đăng Huy

Lý Đăng Huy (1923 – còn sống), sinh trưởng tại Đài Loan, khi lớn sang Nhật học trong thời kỳ Nhật đô hộ (1895 – 1945). Năm 1946 (23 tuổi), ông về lại Taiwan, thấy Quốc Dân Đảng (Kuomingtang) “quá ác” với dân bản xứ không khác gì Phát xít Nhật, ông lén tham gia đảng Cộng sản Trung Quốc một thời gian ngắn, nhưng sau đó bỏ. Sau đó được ông sang Mỹ du học lấy bằng tiến sĩ tại trường Cornell University.

Năm 1971, tham gia Quốc Dân Đảng và tham chính. Với bản chất thông minh ông nhanh chóng leo lên chức vụ cao, rồi làm thị trưởng Đài Bắc, thống đốc Đài Loan, và sau đó từ năm 1984 là phó tổng thống, chỉ sau TT Tưởng Kinh Quốc, năm 1988 Kinh Quốc bị bệnh mất. Tưởng Vĩ Quốc tìm đủ cách để cho mẹ nuôi của mình là Tống Mỹ Linh đưa mình lên làm tổng thống.

Tại thời điểm đó (1945 – 1988), ở Đài Loan không có việc bầu cử, Quốc Dân Đảng nắm tất cả, và hầu hết là người từ Đại lục sang, khi Tưởng Giới Thạch mất, trung ương Quốc Dân đảng rất tôn trọng lời Tống Mỹ Linh. Bà đang nắm quyền “sinh sát” trong tay, khi Tưởng Kinh Quốc mất, chỉ cần Tống Mỹ Linh đồng ý ai thì người đó sẽ là tổng thống. Tống Mỹ Linh, sinh năm 1897, đến năm 1988 khi Kinh Quốc mất, Mỹ Linh đã 91 nhưng rất còn minh mẫn.

Cuối cùng Mỹ Linh đã chọn Lý Đăng Huy và gạt con nuôi Tưởng Vĩ Quốc sang một bên, mặc dù có vài tướng kỳ cựu của Giới Thạch phản đối quyết liệt.

Sau đó vài năm, thì Vĩ Quốc mất, và con trai duy nhất của Tưởng Kinh Quốc, tức là cháu nội của Tống Mỹ Linh cũng chết vì bệnh, năm đó cậu này khoảng hơn 20 tuổi. Thế là dòng họ Tưởng tuyệt tự. Vài năm sau đó khoảng thì Mỹ Linh sang Hawai sống cô đơn và mất tại đó.

Trở lại đề tài chính, sau khi lên làm tổng thống Đài Loan 1988, Lý Đăng Huy vừa là Tổng Thống, vừa là bí thư đảng Quốc Dân, ông đã có nhiều thay đổi trong trung ương đảng. Uỷ ban trung ương có 31 người, thì ông chỉ định 16 người có gốc là Đài Loan, còn gốc Đại lục chỉ còn 15 người.

Năm 1990, tại Đài Bắc có biến cố lớn. Hơn 300.000 sinh viên xuống đường biểu tình đòi thực thi dân chủ toàn diện, người dân phải được bầu chọn tổng thống, nghị sĩ quốc hội …Lý Đăng Huy đã đón tiếp lãnh đạo sinh viên và long trọng xin hứa sẽ cải tố dân chủ toàn diện như sinh viên đòi hỏi.

Đến năm 1991 Liên Xô sụp đổ, thế giới thay đổi, chiến tranh lạnh kết thúc, Đông Âu đã bắt đầu dân chủ (chất xúc tác cho sinh viên Đài Loan xuống đường). Mọi người đều hướng về dân chủ, thậm chí Nam Phi với chủ nghĩa Phân Biệt Chủng Tộc cũng không thể duy trì mãi vì không còn lợi dụng chiến tranh lạnh mà thế giới sẽ làm ngơ, nên đành chủ động thả Nelson Mandela từ ngục tối. Lý Đăng Huy cũng thế, đã thả Nelson Madela của Đài Loan là Thi Minh Đức và giảm truy bức những thành phần đòi độc lập cho Đài Loan.

Sau vài năm chuẩn bị và thay đổi chính sách cũng như chỉnh sửa Hiến pháp 1988 – 1995. Trong thời gian này các đảng phái được tự do hoạt động. Năm 1996, Đài Loan lần đầu tiên tổ chức bầu cử tự do dân chủ đúng nghĩa, có 3 đảng phái chính thức :

1) Quốc Dân Đảng (Kuomingtang) do Lý Đăng Huy ứng cử.
2) Dân Tiến Đảng (Democratic Progressive Party – đảng đòi Độc lập cho Đài Loan).
3) Tân Đảng (New Party – do một nhóm Quốc Dân Đảng bất mãn tách ra).

Và Lý Đăng Huy của Quốc Dân Đảng đã đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ 1996 – 2000. Đây là tổng thống đầu tiên dân cử của lịch sử Đài Loan.

Trước khi bầu cử vài tháng thì Trung Quốc đã dàn rất nhiều hoả tiễn bên kia eo biển ở tỉnh Phúc Kiến, và bắn nhiều quả xuống gần biển Đài Loan. Trung Quốc lên tiếng đe doạ nếu dân Đài Loan bầu cho Dân Tiến Đảng (đảng đòi độc lập) thì sẽ có chiến tranh. Do đó, có nhiều dân Đài Loan dù muốn bầu cho Dân Tiến Đảng nhưng sợ nên đã bầu cho Quốc Dân Đảng, cuối cùng Lý Đăng Huy của Quốc Dân Đảng thắng cử sít sao. Trung Quốc sợ Dân Tiến Đảng thắng cử, thì sẽ tuyên bố độc lập ngay, nên làm rất dữ. Nhưng lọt vào tay Lý Đăng Huy (Kiến trúc sư của Đài Loan độc lập) thì Trung Quốc còn mệt hơn.

Sau khi trở thành tổng thống dân cử đầu tiên tại Đài Loan, Lý Đăng Huy đã có những bước đi táo bạo cho Đài Loan:

1) Thuyết phục được quốc hội chi ra nhiều tỷ dollars sắm sửa trang thiết bị hiện đại cho quốc phòng Đài Loan để không những đủ khả năng tự vệ cho mọi tình huống nếu Trung Quốc tấn công Đài Loan, mà còn đủ khả năng tấn công sâu vào Trung Hoa Đại Lục. Cụ thể có những hỏa tiễn tầm xa có thể đánh sập đập thủy điện Tam Điệp lớn nhất Trung Quốc (và thế giới). Nếu đập này bị đánh sập thì nhiều tỉnh của Trung Quốc sẽ bị ngập trong biển nước, trong đó có các thành phố công nghiệp quan trọng bậc nhất Trung Quốc như Thượng Hải.

2) Thương lượng và ký lại Hiệp ước quân sự Đài Loan – Mỹ. Lần này có thêm Nhật tham gia. Trong đó có điều khoản nếu một nước nào tấn công một trong 3 “đối tác” trên, thì cũng có nghĩa là tuyên chiến với 2 “đối tác” còn lại. Có thể hiểu là nếu Trung Quốc tấn công Đài Loan thì đồng nghĩa với tuyên chiến cả Nhật và Mỹ – một lá bùa sinh tử phù cho Đài Loan.

3) Tuyên bố với thế giới là quan hệ giữa Trung Quốc và Đài Loan phải là State to state (hai quốc gia, có nghĩa là cả hai đều bình đảng như nhau. Trong khi Trung Quốc lúc nào cũng tuyên bố với thế giới là Đài Loan chỉ là 1 tỉnh làm loạn của Trung Quốc.

4) Đẩy mạnh chiến dịch ngoại giao “tiền” (money diplomacy), đó là tìm các nươc nhỏ, nghèo tại Nam Mỹ, Phi Châu, các đảo quốc nhỏ Thái Bình Dương và viện trợ tiền để các nước này công nhận Đài Loan là một nước độc lập. Các nước lớn thì không thể vì có quan hệ làm ăn buôn bán đằu tư tại Trung Quốc, và bị sức ép của Trung Quốc cũng như làm ăn với Trung Quốc có quyền lợi hơn (thị trường 1.3 tỷ, trong khi Đài Loan chỉ có 20 triệu lúc đó, hiện nay là 23 triệu).

Trung Quốc cũng không vừa, tìm đủ mọi cách cô lập Đài Loan, cũng xoay sang dùng lá bài ngoại giao tiền. Các nước nghèo lạc hậu được Đài Loan viện trợ và công nhận Đài Loan cũng được Trung Quốc tiếp cận và chi tiền để công nhận chính sách One China của Trung Quốc, đó là chỉ có một Trung Quốc và Đài Loan chỉ là một tỉnh phản loạn của nước này. Thời thập niên 90s thì Đài Loan có thế mạnh hơn về tiền, lúc đó dự trữ ngoại tệ Đài Loan khoảng 100 tỷ Dollars, còn Trung Quốc chỉ khoảng 15 – 20 tỷ, còn hiện nay thì Trung Quốc là 2.000 tỷ, còn Đài Loan thì cũng chỉ khoảng 100 tỷ. Do đó vào thời 90s, Đài Loan có khoảng 30 nước công nhận, bây giờ chỉ có khoảng 20 nước.

Tại sao có chuyện ngoại giao tiền như trên? Đơn giản là Đài Loan muốn quay lại chiếc ghế trong Liên Hiệp Quốc bị mất năm 1971 về tay Trung Quốc nên đã tìm đủ mọi cách thuyết phục nhiều nước công nhận Đài Loan độc lập, nhưng mọi nỗ lực đều bị Trung Quốc (một trong 5 nước Thường trực Hội đồng Bảo an LHQ ngăn chặn).

Trong thời gian 1996 – 2000, Lý Đăng Huy đã đi những bước táo bạo kể trên cho Đài Loan độc lập, trong thời gian đó Trung Quốc mới nhận chân ra là chính Lý Đăng Huy là kẻ thù nguy hiểm nhất. Trung Quốc đã phô trương nhiều dàn tên lửa bên kia eo biển Đài Loan và tuyên bố: nếu Đài Loan tuyên bố độc lập thì Trung Quốc sẽ đánh. Theo kiểu thâm nho Á Đông, Lý Đăng Huy đáp trả: nếu Trung Quốc đánh thì Đài Loan tuyên bố độc lập. Nhưng thật ra Trung Quốc chỉ dọa suông vì sẽ không bao giờ dám đánh trước vì hiệp ước tay 3 quân sự giữa Mỹ, Đài Loan và Nhật đã đề cập ở trên.

(còn tiếp)

(Sưu tầm internet)

07
Tháng 3
09

Lịch sử ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8/3 và Khởi nghĩa Hai Bà Trưng

“Sao” và ngày 8/3

07/03/2009 – 11:07 AM

Diễn viên Lý Nhã Kỳ

Nếu 8/3 là ngày đặc biệt dành cho “một nửa nhân loại” thì nó càng có ý nghĩa hơn với các “sao”: Minh Hằng, Lan Phương, Lý Nhã Kỳ khi ngày này họ có cơ hội thể hiện tình cảm dành cho người mẹ yêu thương của mình.

Diễn viên Lý Nhã Kỳ: Đón 8/3 sớm và hoành tráng

Công việc tôi rất nhiều, ngày nào cũng phải đi làm nên khái niệm về ngày tháng, lễ tết cũng đơn giản lắm. Nhưng 8/3 đúng là ngày đặc biệt của phụ nữ, ai cũng được tôn vinh trong ngày này chứ không phải chỉ riêng mình.

Nhận lời chúc, hoa, quà trong ngày 8/3 thường tôi có một cảm xúc khác lạ hơn ngày 14/2. Bỗng dưng thấy phụ nữ mình được đàn ông quan tâm nhiều hơn, thấy mình nữ tính và vui hơn trong công việc bộn bề.

Năm nay tôi không được ở Việt Nam đón ngày Quốc tế Phụ nữ cùng mọi người mà phải đi công tác nước ngoài đến ngày 9/3 mới quay về. Nhưng tôi cũng đã kịp nhận hoa, quà trước đó từ những người thân, bạn bè và “fan” của mình. Tôi được nhiều người thương yêu nên cũng nhận hoa quà nhiều từ tình thương này.

Đặc biệt, trong ngày 5/3, mẹ tôi đã tặng cho tôi một mặt dây chuyền may mắn và tôi cũng đã tặng mẹ đến 999 hoa hồng trắng, phải chở bằng xe hơi về tặng mẹ. Xem như tôi có ngày 8/3 hoành tráng trước mọi người (cười).

Diễn viên Lan Phương: Tặng hoa cho mẹ

Diễn viên Lan Phương

Ngày 8/3 của tôi đã kín lịch. Sáng thì đi giao lưu cùng đoàn kịch Nhật Bản, chiều xem Người tốt Tứ Xuyên do đoàn kịch Nhật Bản biểu diễn, tối diễn hai suất Kỹ nghệ lấy Tây tại sân khấu Phú Nhuận nên tôi chỉ có thể dành một ít thời gian để chở mẹ đi ăn và mua hoa tặng mẹ. Năm nào tôi cũng tặng cho mẹ một bó hoa. Nếu mẹ không ở bên cạnh thì nhờ người mang hoa về Vũng Tàu tặng mẹ. Nhưng 8/3 năm nay may mắn nhằm ngày chủ nhật nên mẹ lên TP.HCM thăm tôi, nhờ vậy mà tôi có cơ hội gần mẹ.

Ngày 8/3 là ngày dành chung cho tất cả chị em phụ nữ nên ai cũng nhận được sự ưu ái. So với ngày này thì ngày 5/3 (sinh nhật Lan Phương – PV) tôi nhận được nhiều lời chúc, hoa và quà hơn (cười).

Diễn viên, ca sĩ Minh Hằng: 8/3 luôn dành cho mẹ

Minh Hằng

Ngày 8/3 tôi kín lịch hết, buổi sáng làm việc, tối còn đi hát tới 4, 5 suất. Nhưng tôi sẽ tranh thủ buổi trưa chở mẹ đi ăn. Nhớ 8/3 năm trước, tôi lái xe chở mẹ và em trai đi ăn ở một quán tại Thanh Đa (Bình Thạnh, TP.HCM – PV) thì bị bể lốp làm cả ba mẹ con cùng đẩy xe. Đó là kỷ niệm vui và nhớ đời của ba mẹ con.

Tôi chưa có bạn trai nên ngày 8/3 cũng là ngày bình thường như bao ngày khác, chỉ là ngày đặc biệt làm tôi nhớ tới mẹ nhiều hơn. Nếu khác thì đó là ngày tôi nhận được nhiều hoa, quà từ “fan club” của mình. Nghe đâu các bạn trong câu lạc bộ cũng có kế hoạch tặng quà làm tôi cũng mong đợi ngày đó đến nhanh.

————-

Lịch sử ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8/3 và  Khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Hàng năm, cứ đến ngày 8/3, phụ nữ toàn thế giới trong đó có phụ nữ Việt Nam tổ chức kỷ niệm ngày quốc tế của giới mình. Chị em phụ nữ chúng ta hãy cùng nhau ôn lại lịch sử ngày Quốc tế phụ nữ 8/3.

Lịch sử ngày 8-3 bắt đầu từ phong trào nữ công nhân nước Mỹ. Cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa tư bản ở Mỹ đã phát triển một cách mạnh mẽ. Nền kỹ nghệ đã thu hút nhiều phụ nữ và trẻ em vào các nhà máy, xí nghiệp. Nhưng bọn chủ tư bản trả lương rất rẻ mạt, giờ giấc làm việc không hạn định cốt sao thu được nhiều sản phẩm cho chúng. Căm phẫn trước sự bất công đó, ngày 8-3 năm 1899, nữ công nhân nước Mỹ đã đứng lên đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm. Phong trào bắt đầu từ nữ công nhân ngành dệt và ngành may tại hai thành phố Chi-ca-gô và Nữu Ước. Mặc dù bị bọn tư bản thẳng tay đàn áp, chị em vẫn đoàn kết chặt chẽ, bền bỉ đấu tranh buộc chúng phải nhượng bộ. Cuộc đấu tranh của nữ công nhân Mỹ đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào phụ nữ lao động trên thế giới, đặc biệt phụ nữ ở nước Đức, một nước có kỹ nghệ tiên tiến lúc bấy giờ. Trong phong trào đấu tranh giai cấp lúc đó đa xuất hiện hai nữ chiến sỹ lỗi lạc, đó là bà Cla-ra Zet-kin (Đức) và bà Rô-gia Lúc-xăm-bua (Ba Lan). Nhận thức được sự mạnh mẽ và đông đảo của lực lượng lao động nữ và sự cần thiết phải có tổ chức, phải có lãnh đạo để giành thắng lợi cho phong trào phụ nữ nên năm 1907, hai bà đã cùng phối hợp với bà Crup-xkai-a (vợ đồng chí Lê-nin) vận động thành lập Ban “Thư ký phụ nữ quốc tế”. Bà Cla-ra Zet-kin được cử làm Bí thư.

Năm 1910, Đại hội phụ nữ quốc tế XHCN họp tại Cô-pen-ha-gen (Thủ đô nước Đan Mạch) đã quyết định lấy ngày 8-3 làm ngày “Quốc tế phụ nữ”, ngày đoàn kết đấu tranh của phụ nữ với những khẩu hiệu:
- Ngày làm 8 giờ.
- Việc làm ngang nhau.
- Bảo vệ bà mẹ và trẻ em.

Từ đó ngày 8/3 trở thành ngày đấu tranh chung của phụ nữ lao động trên toàn thế giới, là biểu dương ý chí đấu tranh của phụ nữ khắp nơi trên thế giới đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội; vì quyền lợi hạnh phúc của phụ nữ và nhi đồng.

Ở nước ta, vào ngày 8/3 còn là dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng – hai vị nữ anh hùng dân tộc đầu tiên đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ nguyên bờ cõi, giang sơn đất Việt.

Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng đã phất cờ khởi nghĩa. Lời hịch thiêng liêng “Đền nợ nước, trả thù nhà” đã nhận được sự hưởng ứng của các Lạc hầu, Lạc tướng, của những người yêu nước ở khắp các thị quận và đông đảo lực lượng là phụ nữ tham gia khởi nghĩa. Man Thiện (mẹ của Hai Bà Trưng), bà Lê Chân (Hải Phòng), bà Bát Màn (Thái Bình), bà Lê Thị Hoa (Thanh Hóa), bà Thánh Thiện (Hà Bắc)… ý chí kiên cường và lòng yêu nước của Hai Bà đã được đúc kết lại bằng những vần thơ bất hủ:

“Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”.

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã lan rộng khắp nơi. Trong một thời gian ngắn, dưới sự lãnh đạo tài tình của Hai Bà, nghĩa quân đã đập tan chính quyền đô hộ. Tên tướng đô hộ là Tô Định phải cải trang bằng cách cắt tóc, cạo râu tìm đường tẩu thoát về nước.

Bà Trưng Trắc được các tướng lĩnh và nhân dân suy tôn làm vua. Bà lên ngôi và lấy niên hiệu là Trưng Nữ Vương; đóng đô ở Mê Linh (huyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay).

Năm 42, nhà Hán lại kéo quân sang xâm lược nước ta. Hai Bà lại một lần nữa ra quân, phất cờ khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa lần này chỉ kéo dài được 2 năm do thế và lực của ta và địch chênh lệch quá lớn. Hai Bà đã dũng cảm chiến đấu và hy sinh anh dũng để giữ tròn khí tiết của mình, bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc.

Mặc dù chỉ giành độc lập trong thời gian ngắn nhưng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là một bản anh hùng ca bất diệt, thể hiện ý chí độc lập, tự chủ và tinh thần dân tộc cao cả. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng còn là một minh chứng cho sức mạnh lớn lao, khả năng dồi dào của người phụ nữ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trang sử oanh liệt này sẽ mãi mãi được lưu truyền cho muôn đời con cháu mai sau.

Như vậy: Năm nay, chúng ta kỷ niệm 99 năm ngày Quốc tế phụ nữ (8/3/1910-8/3/2009) và 1969 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng./.

(Tổng hợp từ internet)

15
Feb
09

Biên giới, 30 năm….

Biên giới, 30 năm….

333 magnify

Những hình ảnh này, ba mươi năm rồi. Từ “bành trướng Bắc Kinh” nay đã thành “láng giềng hữu nghị…”, nhưng những người lớp Việt Nam không thể nào quên. Và phía bên kia Bản Dốc, Hữu Nghị Quan… người Trung Hoa chắc chắn vẫn còn nhớ, khi nhiều xương máu con em mình phải bỏ lại vì một cuộc chiến tàn bạo và ngụy tạo.

Một trong những người lính Việt Nam đầu tiên ngã xuống trên chiến trường biên giới

Trước đó vài giờ (rạng sáng ngày 17-9-1979)

tq4 by you.

Quân đội Trung Quốc dàn ngang ngang tấn công trên toàn tuêến biên gơới phía bắc.

Với xe tăng

Pháo binh

tq6 by you.

Bộ binh

Đốt phá

tq7 by you.

Cướp bóc… (Ảnh chụp tại thị xã Lạng Sơn)

Sự tàn bạo của lính Trung Quốc sau này được lý giải khi đa số lính bộ binh đều là người dân tộc, đói kém và dốt nát, bị thí mạnh cho một cuộc chiến với mục đích ngụy tạo.

tq39 by you.

tq39 by you.

Nhưng quân thù ngay lập tức phải trả giá

tq13 by you.

Nằm dưới gót giày của lính Việt Nam

tq16 by you.

Xe tăng T54 của Trung Quốc phơi xác trên đồng

Bộ binh trở về nước bằng những thây ma

Khắp nơi tòng quân, dồn sức cho biên cương

tq17 by you.

Sự giáng trả của Việt Nam đã làm lộ ra bộ yếu hèn, “lấy thịt đè người” của quân Trung Quốc

tq28 by you.

Quân Trung Quốc dần rơi vào thế suy sụp về sinh lực

tq24 by you.

Hoảng loạn tinh thần

tq32 by you.

Sự ngổ ngáo của “anh cả” tan biến

“Tắt điện toàn phần” trước nữ du kích quân

Nhục nhã có khác chi ngày xưa Thoát Hoan chúng mày phải chui ống đồng trốn về nước

tq21 by you.

Số đông khác được đưa về Hà Nội để bàn dân quốc tế thăm hỏi

U1957129 by you.

Hàng ngàn số phận thanh xuân đã ra trận, nhiều lắm trong số đó đã không về

Như khuôn mặt hồn hậu của người lính này. Có lẽ anh đã hy sinh trên chiến trường biên giới. Di ảnh của anh, giờ tìm thấy trên trang web của Bộ Quốc Phòng Trung Quốc, trong hình ảnh về những “chiến lợi phẩm” thu được.

Không có chính nghĩa, không cùng mục đích… Nhưng phía bên kia biên giới, nhiều người Trung Quốc co chung một nỗi đau như người Việt Nam..

tq34 by you.

Chồng

tq36 by you.

Con

tq37 by you.

Đồng đội

…đã bỏ xác… Có thể họ còn đau hơn vì không bao giờ có được một sự thật để lý giải.

tq40 by you.

Biên giới, 30 năm! !Quá khứ có thể phải ngủ yên nhưng không bao giờ bị lãng quên.

(Nguồn blog K’lu)

BÀI LIÊN QUAN:

14
Feb
09

Hình ảnh cuộc Chiến tranh Biên Giới – Việt-Trung 1979-1989

Hình ảnh cuộc Chiến tranh Biên Giới – Việt-Trung 1979-1989

Mình xin được cung cấp 1 số hình ảnh, tài liệu được cung cấp liên quan đến cuộc chiến tranh chống giặc Trung Quốc xâm lăng này. Tô Mai Hồng (Xu Meihong) Một trong những điều làm cho binh sĩ của chúng ta bực tức nhất là nữ du kích Việt Nam. Trong khi tiến phía nam, chỗ nào đã đi qua rồi là chúng ta coi như vùng đó là nơi an toàn, nhưng sự thật thì không phải như thế vì trên nội địa Việt Nam không có nơi nào có thể gọi là nơi an toàn đối với chúng tôi cả. Một đoàn xe tăng T59 đi hàng một trên một con đường núi nhỏ hẹp. Gặp khúc quanh ngặt, xe dẫn đầu phải chạy rất chậm mới có thể quẹo được; nhưng trong khi rẽ thì lổ châu mai dùng để nhắm vẫn đứng yên bất động, không quay theo hướng của chiếc xe. Và chính lúc đó là lúc mà tên du kích dùng súng của bắn vào lổ châu mai và giết chết người lái xe. Lái xe của 7 chiếc xe tăng đều bị giết chết khi họ muốn quẹo xe và cả đoàn cơ giới đành phải dừng lại vì không có bộ binh đi theo hộ tống, và ai cũng tưởng đã gặp phải sức chống cự của một lực lượng hùng hậu của địch. Rồi mọi xe tăng đều bắt đầu xạ kích lung tung vì không thấy mục tiêu. Khi dứt tiếng súng thì cảnh vật lại trở về im lặng với cây rừng. Sau đó một chốc, một đại đội bộ binh được điều đến để lục soát trong vùng. Cuối cùng họ bắt được một nữ du kích Việt Nam với một khẩu súng. Viên chỉ huy đoàn xe giận quá bèn cho lột trần cô ta, trói cả tay chân rồi ném ra giữa đường. Ông ta nhảy lên một chiếc xe và lái xe này chạy qua chạy lại nhiều lần qua cô gái cho đến khi chỉ còn một mớ thịt bầy nhầy trải trên mặt đường núi. Trong khi đó binh sĩ của ông ta lên tiếng cổ vũ rầm rĩ vang cả khu rừng.

Nữ du kích Việt Nam bắt sống bọn Tàu

Quân ta hy sinh

Du kích Việt Nam rule!

Trung Quốc tiến vào Việt Nam

Trung Quốc quỳ gối dưới Việt Nam

Vi Xuyen- Ha Giang 1984

Trung Quốc ở Lào Sản

Quân VN trở về sau cuộc chiến

owned!

Hà Giang 1984

Trên Biên Giới những năm 1984

1 nhóm Trung Quốc tấn công vào hang động, chúng ta đã sử dụng lựu đạn và RPG-7 để tiêu diệt chúng.

Chiến sĩ đi tuần trên biên giới

Quân Trung Quốc áp giải du kích VN

Tàu thương vong vô số

Quân Trung hành quân

T62 tank – 1979

Trung Quốc tiến vào thị xã VN

Bắt sống gián điệp Trung Quốc những năm 1984

Ai bắn quả này phải tuyên dương anh hùng! Nice shot!

Su khi quân VN trở về Lạng Sơn. Trung Quốc đã san bằng

Lạng Sơn 1979

Tô Mai Hồng (Xu Meihong) Trong cuộc chiến tranh “trừng phạt ” này, chúng ta đã áp dụng chính sách tiêu thổ đối với Việt Nam. Ngay trong vùng Lạng Sơn có mỏ “lân tinh”, chúng ta đã cho công binh tháo gỡ toàn bộ máy móc và dụng cụ dùng để khai thác hầm mỏ này mang về Trung Quốc. Những gì không mang đi được như đường sá, nhà cửa, các con đường hầm, đều bị phá sạch.

Cao điểm 116 sau hơn 8000 quả đạn của quân ta “giã” vào chúng.

Hà Tuyên 1984

Biên Giới 1979

Người TQ đã phải trả quá nhiều máu trên lãnh thổ VN!
(Sưu tầm)

12
Feb
09

Cuộc Chiến 1979 và Hoàng Sa

Cuộc Chiến 1979 và Hoàng Sa

Ngày 7-2-1979, tại Tokyo, khi ngầm thông báo với báo chí một chiến dịch “trừng phạt” Việt Nam, Đặng Tiểu Bình giải thích: “Hiệp ước mà Việt Nam và Liên Xô ký kết có tính chất đồng minh quân sự. Việt Nam đã mở cuộc xâm nhập vũ trang vào Campuchia và đang khiêu khích ở biên giới Trung Quốc“. Tuy nhiên, nguyên nhân thực sự của cuộc chiến tranh mà Đặng Tiểu Bình thực hiện 10 ngày sau không đơn giản chỉ là những gì được nói ra trong lời tuyên bố ấy.

Hiệp ước mà ông Đặng đề cập là Hiệp ước hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Liên Xô, ký ngày 3-11-1978. Hiệp ước này được ký kết sau khi mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã rất trầm trọng: Trung Quốc yêu cầu Việt Nam đóng cửa 3 tổng lãnh sự quán (6-6-1978 ) và cắt toàn bộ viện trợ (7-1978 ). Ngày 29-1-1979, khi hội đàm ở Mỹ, Đặng Tiểu Bình nhắc tới Campuchia, Afganistan với Tổng thống Jimmy Carter và cảnh báo “nguy cơ phản ứng dây chuyền”. J. Carter “đồng ý với Đặng cách nhìn nhận” ấy. Tuyên bố chung, hai ngày sau đó (1-3), nhấn mạnh, “Trung-Mỹ chống lại bất kỳ quốc gia hoặc tập đoàn quốc gia nào mưu kế bá quyền“. Đặng đã thành công khi sử dụng liên minh Việt-Xô để gieo rắc hoài nghi, khiến Mỹ làm ngơ cho Trung Quốc đánh Việt Nam, bên trong, Đặng không hề đánh giá cao “liên minh” ấy.

Trong hội nghị do Quân ủy Trung ương Trung Quốc triệu tập, bàn “chủ trương” đánh Việt Nam, không ít tướng lĩnh đã cảnh báo nguy cơ bị Liên Xô tấn công. Khi ấy, trên biên giới Trung- Xô, Liên Xô bố trí tới 50 sư đoàn chủ lực. Đặng Tiểu Bình nhận định: “Liên Xô không thể không xét tới nhiều nhân tố quốc tế nên khả năng (vì Việt Nam mà) can thiệp vào Trung Quốc là rất ít“. Trên thực tế, một tuần sau khi Trung Quốc đánh Việt Nam, không thấy Liên Xô “ra tay”, Trung Quốc đã đánh tiếp sang thị xã Lạng Sơn, và chỉ rút khi trên hướng này Quân Đoàn II xuất hiện.

Tại thời điểm Đặng tuyên bố với báo chí, 7-2-1979, quân đội Việt Nam có mặt ở Phnompênh vừa tròn một tháng, nên “yếu tố Campuchia” có vẻ như rất dễ thuyết phục. Nhưng, theo cuốn sách “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt” của NXB Đại học Tứ Xuyên, công bố năm 1993, ngay trong Hội Nghị Quân ủy Trung ương, từ 7 đến ngày 9 tháng 12 năm 1978, Trung Quốc đã quyết định đánh Việt Nam. Trong ngày 9-12-1978, Quyết định này đã được “tuyệt mật” chuyển tới tay tướng Hứa Thế Hữu (Tướng Hữu cùng với Dương Đắc Chí là hai tướng chỉ huy cuộc chiến tranh 17-2). Trong khi mãi tới ngày 25-12-1978, quân đội Việt Nam mới bắt đầu mở chiến dịch đánh sang Phnompênh.

Khi Khmer Đỏ chưa nắm được chính quyền, đang “ăn nhờ, ở đậu” gần Trung ương Cục (Việt Nam), Pol Pot, Yeng Sary đã “đi lại” với Bắc Kinh. Năm 1970, Lon Non lật đổ Sihanouk, Pol Pot đã rất cay cú khi Sihanouk được đưa về Hà Nội. Pol Pot nhận ra, họ không phải là lực lượng duy nhất mà Việt Nam ủng hộ ở đất nước nhỏ bé này. Cho dù sau đó “lá bài” Sihanouk cũng được “nuôi” ở Bắc Kinh như một ông hoàng, người Trung Quốc đã khéo léo nhen nhúm hiềm khích Việt Nam cho Pol Pot. Chính vì thế mà ngay trong năm 1975, Khmer Đỏ đã phản bội Việt Nam, bắn giết ở Phú Quốc, ở Thổ Chu và từ năm 1977 đánh sang An Giang, Tây Ninh, có khi vào sâu hơn 10 km. Tuy nhiên, cho dù có bị “mất mặt” khi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ do Trung Quốc hậu thuẫn bị Việt Nam đánh đổ ở Phnompênh. Liệu, Trung Quốc có phải là một “đàn anh” trung thành với lân bang đến mức hy sinh mình như vậy?

Người Hoa và vấn đề “nạn kiều” cũng đóng một vai trò nhất định. Thật khó lý giải vì sao cuộc “cải tạo tư sản công thương nghiệp”, đụng tới hàng trăm nghìn người Hoa, lại được Việt Nam tiến hành năm 1978, khi mà mối quan hệ với Trung Quốc đang hết sức căng, nếu như không đề cập đến câu chuyện sau đây, câu chuyện mà sách vở chưa bao giờ nói đến. Bí thư Thành ủy TP HCM vào thời điểm 1975, ông Võ Văn Kiệt, kể: “Sau ngày 30-4, ở khu vực Chợ Lớn có một chi bộ có vũ trang thuộc bộ phận hải ngoại của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Chi bộ này xuất hiện bí mật từ trước 30-4 và khi đó họ đòi được công khai hoạt động“. Để một lực lượng Trung Quốc có vũ trang ở Chợ Lớn thì cũng không khác chi “đặt mồi lửa dưới đống củi”, Việt Nam buộc phải “giải giáp” họ. Bắc Kinh rất khó chịu về vụ “giải giáp” này. Nhưng, cho dù có bao nhiêu người Hoa đã phải ra đi trong năm 1978 thì “nạn kiều” vẫn là một “lá bài” mà Trung Quốc cũng chủ động “chơi” chứ không hẳn là nguyên nhân khiến cho Đặng Tiểu Bình đưa quân sang Việt Nam xâm lược.

Tác giả của “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt” còn chỉ ra một vấn đề rất có thể cũng là nguyên nhân: Năm 1978, Đặng Tiểu Bình vừa khôi phục lại quyền lãnh đạo quân đội, “Ông có ý thức nhạy bén… thông qua cuộc chiến tranh, vừa thăm dò được sự trung thành (của quân đội), vừa làm cho các nhà lãnh đạo (Trung Quốc) khác nhận rõ những mặt phải cải cách quân đội“. Đại tá Hà Tám, chỉ huy trung đoàn 12 anh hùng đánh Trung Quốc tháng 2-1979, cho biết: “Mặc dù pháo theo cùng của Trung Quốc bắn khá chính xác, nhưng, bộ binh thì chủ yếu dùng ‘biển người’; chỉ huy của Trung Quốc lúc ấy ra trận mà vẫn có người che ô, quân thì chờ kèn kêu mới xông trận“. Sau ngày 17-2, Trung Quốc đã gấp rút cải cách quân đội, và họ đã “thử nghiệm” lại trên Biên giới Việt Nam vào ngày 28-4-1984 bằng một chiến dịch với phương thức chiến tranh hoàn toàn mới.

Đặng Tiểu Bính nói: “Người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán“. Cuộc chiến tranh được huy động khi mà Trung Quốc đang vô cùng lạc hậu sau các cuộc cách mạng “da thịt tàn nhau” không chỉ nhắm đến một mục tiêu. Bằng cách kể lể kiểu chương hồi, cuốn sách mà Trung Quốc cho công bố, “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, đã để lộ một ý đồ thâm sâu của Đặng, đó là vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa. Ngay sau khi kết thúc chiến tranh ở miền Nam, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã bày tỏ thái độ khá kiên định về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa, quần đảo mà từ lâu Trung Quốc đã rắp tâm thôn tính.

Tháng 6-1975, Bộ Ngoại Giao Việt Nam gửi công hàm cho Trung Quốc về vấn đề Hoàng Sa. Ngày 24-9-1975, khi gặp Đặng Tiểu Bình ở Bắc Kinh, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã “yêu cầu phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình đàm phán về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa“. Tháng 4-1977, trên đường đi Liên Xô ghé qua Bắc Kinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã gửi đến Trung Quốc thông điệp của Việt Nam về hai quần đảo ấy. Tuy nhiên, trước sau Trung Quốc đều một mực “yêu cầu Việt Nam trở lại lập trường trước năm 1974“. “Lập trường trước năm 1974“, theo cuốn sách “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt” là “Tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958“. Cuốn sách nói là Đặng Tiểu Bình đã rất “khó chịu” với Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Đặng nói: “Vấn đề này không cần thiết phải đàm phán… (đó) là lãnh thổ Trung Quốc“.

Có lẽ, năm 1979, Đặng Tiểu Bình nghĩ là có thể đè bẹp ý chí của người Việt Nam trong vấn đề đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa nên đã phát động chiến tranh. Và, các yếu tố như Liên Xô, Campuchia được Đặng vận dụng tối đa để cô lập Việt Nam trên trường quốc tế. Điều cay đắng là, lẽ ra Đặng đã không thể cô lập Việt Nam để gây đổ máu của dân ta như thế nếu như sau 1975, Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trong khối ASEAN ngay và đặc biệt, bình thường ngoại giao với Mỹ. Năm 1977, khi Mỹ chìa tay ra cho Việt Nam, theo Tổng thống Jimmy Carter, “vấn đề bồi thường chiến tranh đã gây khó khăn“. Rồi, trong khi Việt Nam đang loay hoay thì Đặng Tiểu Bình đã khai thác yếu tố này ngay, để thiết lập được quan hệ ngoại giao với Mỹ và đặt Việt Nam vào tình huống bị bao vây, cấm vận. Tất nhiên, “ý thức hệ” đóng một vài trò quan trọng trong quyết định “nhất biên đảo” với Liên Xô; năm ấy, báo Nhân Dân vẫn chỉ trích Đặng về chủ thuyết “mèo trắng, mèo đen” và ngày nay, chúng ta vẫn cần phải quan tâm tới bài học ấy.

Tôi công bố bài viết này không chỉ vì sắp đến ngày 17-2 mà còn vì, muốn lưu ý, “người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán”, không nên đặt cuộc chiến tranh 17-2 ra ngoài âm mưu Biển Đông. Bản Giốc, Tục Lãm… giờ đã xong; nhưng, Hoàng Sa, Trường Sa thì vẫn đó.

Huy Đức

(bài này chưa đăng báo giấy)

17 tháng 2 năm 1979. CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI VIỆT TRUNG

1979 Dân chúng CAO BẰNG tản cư

Cầu Tài Hồ Sìn : tên đèo và cây cầu trên Quốc lộ 3, gần thị xã Cao Bằng.
Tại đây đã xảy ra chiến sự ác liệt vào hạ tuần tháng 2-1979. Công binh Tàu đang sửa cầu

Quân Tàu tràn qua Cầu Tài hồ Sin tiến vào Cao Bằng

Quân Tàu Tấn công chiếm doanh trại Bộ Đội VN

Xe tăng tấn công

quân Tàu nấu cơm trên đường tiến quân

Công tác tư tưởng , ban cờ quyết thắng

Quân Tàu chuẩn bị ra quân

Hình ảnh thu từ xác Bộ Đội Việt Nam

Mộ quân Tàu chết năm 79

Mộ Lính Việt Nam

12
Feb
09

Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)

Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)

Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi. Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn Đài. Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”. Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.

“Những đôi mắt”

Hôm ấy, ông Quế không có nhà, vợ ông, bà Dự, bị dựng dậy khi bên ngoài trời hãy còn rất tối. Bà nghe tiếng pháo chát chúa ở hướng Đồng Đăng và phía dốc Chóp Chài, Lạng Sơn. Bà Dự đánh thức các con dậy, rồi 4 mẹ con dắt díu nhau chạy về xuôi. Tới ki-lô-mét số 10, đã quá trưa, bà rụng rời khi hay tin, anh Đài đã bị quân Trung Quốc giết chết. Anh Đài là công nhân đường sắt, thời điểm ấy, các anh đương nhiên trở thành tự vệ bảo vệ đoạn đường sắt ở Hữu Nghị Quan. Anh em công nhân trong đội của Đài bị giết gần hết ngay từ sáng sớm. Đài thuộc trong số 3 người kịp chạy về phía sau, nhưng tới địa bàn xã Thanh Hòa thì lại gặp Trung Quốc, thêm 2 người bị giết. Người sống sót duy nhất đã báo tin cho bà Dự, mẹ Đài.

Cùng thời gian ấy, ở bên núi Trà Lĩnh, Cao Bằng, chị Vương Thị Mai Hoa, một giáo viên cấp II, người Tày, mới ra trường, cũng bị giật dậy lúc nửa đêm rồi theo bà con chạy vào hang Phịa Khóa. Hàng trăm dân làng trú trong hang khi pháo Trung Quốc gầm rú ở bên ngoài, rồi lại gồng gánh theo nhau vào phía Lũng Pùa, chạy giặc. Chị Hoa không bao giờ có thể quên “từng đôi mắt” của dòng người gồng gánh ấy. Giờ đây, ngồi trong một cửa hàng bán băng đĩa trên phố Kim Đồng, thị xã Cao Bằng, chị Hoa nhớ lại: “Năm ấy, tôi 20 tuổi. Tôi nghĩ, tại sao mình lại chạy!”. Chị quay lại, sau khi thay quần áo giáo viên bằng bộ đồ chàm vì được những người chạy sau cho biết, rất nhiều người dân ăn mặc như cán bộ đã bị quân Trung Quốc giết chết. Từ trên đồi, chị Hoa thấy quân Trung Quốc gọi nhau ý ới và tiến vào từng đoàn.

“Cuộc Chiến 16 Ngày”

Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ý kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.

Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đã tấn công rồi. Sáng 17-2, Tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.

Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến vào Bát xát, Lao Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.

Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị Biên giới đã nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Đại học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Rì; Chủ tịch Nước ra lệnh “Tổng Động viên”… ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.

Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.

Lặng Lẽ Hoa Đào

Ngồi đợi ông Nguyễn Thanh Loan, người trông giữ nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, chúng tôi nhìn ra xa. Tháng Hai ở đây mới là mùa hoa đào nở. Nghĩa trang có 1680 ngôi mộ. Trong đó, 1600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh từ ngày 17-2. Ở Vị Xuyên, tiếng súng chỉ thật sự yên vào đầu năm 1990. Năm 1984, khi Trung Quốc nổ súng trở lại hòng đánh chiếm hơn 20 cao điểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, bộ đội đã phải đổ máu ở đây để giành giật lấy từng tấc đất. Rất nhiều chiến sỹ đã hy sinh, đặc biệt là hy sinh khi tái chiếm đỉnh cao 1509. Ông Loan nhớ lại, cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về, từng túi tử sỹ xếp chồng lên nhau. Trong số 1600 liệt sỹ ấy, chủ yếu chết trong giai đoạn 1984, 1985, có người chết 1988, còn có 200 ngôi mộ chưa xác định được là của ai. Sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc, cái pháo đài trên đỉnh 1509 mà Trung Quốc dành được và xây dựng trong những năm 80, vẫn còn. Họ nói là để làm du lịch. Từ 1509, có thể nhìn thấu xuống thị xã Hà Giang. Năm 1984, từ 1509 pháo Trung Quốc đã bắn vào thị xã.

Trên đường lên Mèo Vạc, sương đặc quánh ngoài cửa xe. Từng tốp, từng tốp trai gái H’mông thong thả cất bước du xuân. Có những chàng trai đã tìm được cho mình cô gái để cầm tay. Một biên giới hữu nghị và hòa bình là vô cùng quý giá. Năm 1986, vẫn có nhiều người chết vì đạn pháo Trung Quốc nơi đoạn đường mà chúng tôi vừa đi, nơi các cô gái, hôm nay, để cho các chàng trai cầm tay kéo đi với gương mặt tràn trề hạnh phúc.

Quá khứ, rất cần khép lại để cho những hình ảnh như vậy đâm chồi. Nhưng cũng phải trân trọng những năm tháng đã thuộc về quá khứ. Tháng Hai, đứng ở bên này cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, nhìn sang bên kia, thấy lừng lững một tượng đài đỏ rực mà theo các sỹ quan Biên phòng, Trung Quốc gọi là “ đài chiến thắng”. Trở lại Lạng Sơn, những chiếc xe tăng Trung Quốc bị quân và dân ta bắn cháy hôm 17-2 vốn vẫn nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, giờ đã được bán sắt vụn cho các khu gang thép. Ở Cao Bằng, chúng tôi đã cố nhờ mấy người dân địa phương chở ra kilomet số 3, theo hướng đèo Tài Hồ Sìn, tìm tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc của tiểu đoàn đặc công 45, nhưng không thấy. Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông Lương Đức Tấn, Bí thư Chi bộ, nguyên huyện đội phó Hòa An, đưa ra cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách.

Huy Đức

20
Tháng 1
09

Nước Mỹ sẽ tan rã?

Nước Mỹ sẽ tan rã?

Đó là nhận định không phải của một nhà chiêm tinh học mà của một vị giáo sư Nga có tên tuổi, cựu nhân viên KGB và là viện trưởng viện đào tạo các nhà ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao Nga, tiên đoán về sự sụp đổ và tan rã của nước Mỹ . Theo dự đoán của vị giáo sư này, nước Mỹ sẽ chia thành ba: cộng hòa California gồm các bang miền Tây, nằm dưới sự thống trị của Trung Quốc; New York và Washington DC cùng các bang miền Đông sẽ gia nhập Liên minh châu Âu; còn miền Bắc nước này sẽ thuộc về Canada. Texas và các bang miền Nam sẽ gia nhập Mexico! Hawaii thuộc về Nhật còn Alaska trở lại với Nga. Một kịch bản còn xa hơn những tưởng tượng của nhà văn Philip Dick trong tác phẩm giả tưởng lịch sử The Man in the High Castle, trong đó Philip Dick giả tưởng nước Mỹ thua trận trong thế chiến thứ Hai và miền Tây sẽ dưới sự bảo hộ của Nhật còn miền Đông dưới sự cai trị của Đức. Nhưng Philip Dick là nhà văn viết tiểu thuyết giả tưởng chứ không phải “chuyên gia” về quan hệ quốc tế.

Đáng nói hơn là những ý tưởng điên rồ như của vị giáo sư này lại được nước Nga tiếp nhận khá nghiêm túc, được báo đài của chính quyền đưa tin, phỏng vấn rộng rãi, thậm chí còn được đưa ra thảo luận bàn tròn tại Bộ Ngoại Giao Nga. Ông ta được những trường ngoại giao hàng đầu trong cả nước mời đến phát biểu, trình bày quan điểm của mình. Đó có phải là dấu hiệu của thái độ căm ghét phương Tây, căm ghét Mỹ mù quáng trong công chúng và chính quyền Nga hiện nay? Tôi nghĩ trong lịch sử của mình, nước Nga luôn là một hung thần, một hiểm nguy đối với các dân tộc ngoài Nga. Thời nước này hùng mạnh, nó là hung thần với các công dân của các dân tộc thiểu số trong lòng nó (xem số phận người Ukraine, người Chechen…) và các nước lân bang. Thời nước này suy yếu, nó là hung thần với những người nước ngoài và những người Nga thuộc sắc dân thiểu số sống trong lòng nó. Chủ nghĩa sô-vanh và tệ phân biệt chủng tộc ở nước này quá sức nặng nề và hầu như không có một kháng lực nào để căn bệnh đó thuyên giảm.

Bài viết này của Richard Pipes, giáo sư sử học Mỹ, chuyên gia hàng đầu về Liên Xô cũ và nước Nga, do Thái Linh dịch và đăng trên blog Lilia. Xin mạn phép copy lại để thêm nhiều người đọc.

Nước Nga buồn thảm

Richard Pipes (nhà sử học, chính trị học, Xô-viết học người Mỹ, cố vấn của tổng thống Ronald Reagan. Bài đăng trên tuần báo Wprost (Ba Lan) số ra ngày 21-28/12/2008. Thái Linh dịch)

Xưa kia, Gogol đọc những chương đầu tiên của „Những linh hồn chết” cho Pushkin nghe. Nhà thơ thường ngày hay cười, khi nghe tác phẩm của Gogol, trở nên mỗi lúc một buồn bã hơn. Khi nhà văn ngừng đọc, Pushkin thở dài và thốt lên: „Lạy Chúa, nước Nga của chúng ta mới buồn thảm làm sao!”

Tôi nghĩ đến cảnh tượng từ đầu thế kỷ XIX ấy khi theo dõi các sự kiện ở Nga. Vì đâu một dân tộc như dân tộc Nga, tài năng trong văn học, nghệ thuật và khoa học, lại không thể tổ chức được cuộc sống xã hội để bảo đảm cho mình sự ổn định và một nhà nước pháp quyền? Tại sao người Nga che giấu hết cuộc khủng hoảng này đến khủng hoảng khác, bù đắp cho điều đó bằng sự khinh mạn và khủng bố các nước láng giềng? Thật là một vở kịch thương tâm. Đã 17 năm trôi qua từ khi Liên Xô sụp đổ. Các nước Đông Âu, sau khi thoát khỏi sự kìm kẹp của Nga, đã xây dựng được những nhà nước dân chủ dù ít dù nhiều và hòa nhập vào cộng đồng châu Âu. Họ biết họ thuộc về cái gì. Chỉ có nước Nga là vẫn không biết.

Theo các điều tra dư luận, người Nga chối bỏ lối sống và các giá trị phương Tây. Trên phương diện chủng tộc và tôn giáo, họ không thuộc thế giới Hồi giáo hay Phật giáo phương Đông, họ khẳng định rằng họ muốn đi theo con đường riêng của mình, mặc dù họ không xác định được con đường đó là gì. Vì vậy họ rơi vào tình trạng tự cô lập, không biết tìm cho mình một chỗ đứng trong gia đình các dân tộc toàn thế giới.

Những người lãnh đạo nước Nga – phần lớn là các cựu quân nhân cảnh sát chính trị xô viết – ý thức được sự vô vọng của nền kinh tế cộng sản và đã quay sang chủ nghĩa tư bản. Nhưng đấy là chủ nghĩa tư bản trong đó nhà nước kiểm soát các ngành kinh tế mang lại nhiều lợi nhuận, như dầu lửa và khí đốt, đồng thời tỏ ra không tôn trọng sở hữu tư nhân. Ví dụ như các hợp đồng với British Petroleum và Shell, bị cắt đứt với lý do không tuân thủ việc bảo vệ môi trường. Tài sản của Michail Chodorkovsky, chủ hãng Yukos, bị tịch thu trên cơ sở các cáo buộc gian dối về tội trốn thuế. Thực chất là các lý do chính trị.

Cả Putin lẫn Medvedev đều không được chuẩn bị cho các hậu quả của khủng hoảng tài chính thế giới. Cả hai đều cho rằng nước Nga được cách ly khỏi kinh tế thế giới như Liên Xô trước kia. Vì vậy họ cam đoan rằng họ kiểm soát được cuộc khủng hoảng là hậu quả sự thiếu thận trọng của người Mỹ. Nhưng họ không giải thích được cho nhân dân tại sao thị trường chứng khoán Nga sụt giảm 85%, mất nhiều hơn bất cứ thị trường chứng khoán nào khác trên thế giới. Họ không thể giải thích tại sao đồng Rúp mất giá. Nền kinh tế của họ, phụ thuộc vào xuất khẩu năng lượng, đang bị đe dọa, khi mà trên thị trường quốc tế giá một thùng dầu tụt xuống dưới 70 USD. Các nhà lãnh đạo Nga đến bây giờ mới nhận thức được họ đã trả cái giá đắt như thế nào cho cuộc xâm lược Georgia, khi sau đó các nhà đầu tư nước ngoài rút khỏi Nga một số vốn trị giá gần 100 tỉ USD.

Trong lãnh vực chính trị tình hình cũng không khá hơn. Người Nga hoài nghi cho rằng mọi chính phủ đều do các chính khách chỉ biết chăm lo đến quyền lợi cá nhân lãnh đạo. Bởi vậy phần lớn dân Nga không quan tâm đến chuyện bầu những người lãnh đạo. Họ thấy các chính phủ chuyên quyền là phù hợp với mình. Những người lãnh đạo phải „mạnh mẽ, cương quyết và không khoan nhượng”. Putin và Medvedev đều tỏ rõ cho mọi người hiểu rằng họ không định xây dựng nước Nga thành một nước dân chủ. Họ lặp lại quan điểm của nữ hoàng Catherine II và Aleksandr II, rằng dân chủ sẽ dẫn đến sự sụp đổ của nước Nga. Trong bài giảng ở Đại học Columbia, Mỹ vào năm 2003 Putin phản đối lại lời chỉ trích rằng ở nước ông ta không có tự do ngôn luận, viện lý lẽ là trong lịch sử của mình, nước Nga chưa từng biết đến thứ tự do này. Việc chính quyền hiện nay không ưa tự do ngôn luận đã khiến cho mười ba nhà báo dũng cảm dám chỉ trích chế độ phải trả giá bằng mạng sống. Cho tới nay vẫn chưa tìm ra thủ phạm.

Lệ chuyên quyền, đối với truyền thống phương Tây là cá biệt, lại được 2/3 dân Nga ủng hộ. Hậu quả của nó là sự tách biệt dân chúng khỏi các vấn đề của quốc gia. Có thể đặt câu hỏi nếu khủng hoảng chính trị nổ ra, người dân Nga có đứng lên giúp đỡ chính phủ hay không? Trong các thời điểm như vậy dân chúng rút lui vào cuộc sống riêng, để kệ cho chính phủ tự bảo vệ mình. Người ta đã có thái độ như thế ở Nga vào năm 1917 và năm 1991, khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, trong sự thờ ơ của nhân dân.

Khi người Nga nói họ muốn chính phủ phải „mạnh mẽ, cương quyết và không khoan nhượng”, ý họ cũng muốn nói đến chính sách ngoại giao. Khi hỏi rằng nước họ nên được nhìn nhận như thế nào trên trường quốc tế, gần một nửa số người được hỏi trả lời là „một nước hùng mạnh, bất khả chiến bại, một cường quốc của thế giới”. Chỉ có 3% trả lời là „nước yêu hòa bình và thân thiện”, và 1% là „nước pháp quyền và dân chủ”. Thái độ ấy của phần lớn xã hội lý giải sự nỗ lực đến mức ám ảnh của người Nga để xây dựng địa vị „cường quốc lớn” mà họ đạt tới đỉnh điểm trong chế độ Xô viết và đã đánh mất. Cũng chính vì lý do này mà phần lớn người Nga coi Stalin là lãnh tụ lớn nhất, và coi thường Kerensky và Yeltsin, những người đã cố gắng mang tự do đến cho họ. Tham vọng lớn nhất của các lãnh tụ là xây dựng cho nước Nga khả năng gây khiếp sợ và bắt người khác phải vì nể.

Mỗi năm chính sách ngoại giao của Nga một trở nên hung hãn hơn. Chính quyền phản ứng một cách giận dữ khi cảm thấy các mong muốn của mình bị lờ đi, như trong trường hợp Kosovo, Georgia hay các vấn đề hệ thống phòng chống tên lửa của Mỹ ở Ba Lan và Séc. (…) Có vẻ như mục đích chính của sự can thiệp vào Georgia là để quấy rối và làm mất thể diện nước Mỹ. Moscow muốn cho thấy – và họ đã thành công – rằng Mỹ không có khả năng cứu bất cứ một đồng minh nào trong „vùng ảnh hưởng đặc biệt” của Nga. Các nỗ lực của Nga để chia rẽ châu Âu và Mỹ cũng phục vụ cho mục đích này. Moscow thực hiện chính sách này thành công. Một phần là do sự phụ thuộc của châu Âu vào việc cung cấp năng lượng của Nga, phần khác vì sự ghen tị với vai trò chủ đạo của Mỹ trên thế giới mà các chính khách châu Âu – Berlusconi, Sarkozy và Merkel – đã chọn sự trung lập trong căng thẳng của Washington – Moscow. Nước Nga cảm ơn Liên Hiệp châu Âu vì đã không áp dụng với nước này các hình phạt cho cuộc xâm lược Georgia.

Chuẩn bị cho dân chúng trước sự sụp đổ giả tưởng của Hoa Kỳ, truyền thông Nga vẽ ra những bức tranh vui tươi cho nước mình, mà đến năm 2020 phải vượt qua Hoa Kỳ trong kinh tế và quân sự và có thể – cùng với Trung Quốc – thay thế siêu cường quốc đáng căm ghét này. Đồng Rúp sẽ phải trở thành ngoại tệ dự trữ chính, còn Moscow – thành thủ đô tài chính của thế giới. Khi đọc các dự báo như vậy, người ta có thể đặt câu hỏi liệu các tác giả có tin vào chúng không, hay là họ đang có mưu đồ. (…)

Tôi tin rằng để nước Nga không còn là một khó khăn cho chính mình và cho phần còn lại của thế giới, nó phải chọn ra được một chính phủ biết xóa bỏ những mộng tưởng siêu cường quốc, dồn công sức cho việc phát triển nền kinh tế quốc dân hiệu quả và nhà nước pháp quyền. Chính phủ ấy cũng phải từ bỏ sự tự cô lập và tiếp nhận một tiến trình theo phương Tây mạnh mẽ. Chính sách này không có cơ hội dưới trướng chính phủ của Putin – Medvedev. Có thể nước Nga cần một cú sốc mới để đương đầu với hiện thực.”

(Nguồn Linh’s blog)

Báo trong nước:


18
Tháng 1
09

Tìm hiểu cuộc xung đột Do Thái-Palestine

Tìm hiểu cuộc xung đột Do Thái-Palestine

Trong khi Đệ Nhất Thế Chiến đang tiếp diễn, chính quyền Anh, vì lý do chính trị và lịch sử tôn giáo, đã ban hành ngày 2/11/1917 bản Tuyên Ngôn Balfour (Balfour Declaration -Balfour: tên của Tổng Trưởng Ngoại Giao Anh, Lord Arthur James Balfour), dự liệu một kế hoạch chia cắt đất đai tại Palestine cho người Do Thái lưu vong khắp nơi trên thế giới được trở về quê hương cũ mà người Do Thái xác quyết là xứ sở của tổ phụ Abraham của họ, viện dẫn Sách Thứ Nhất trong Cựu Ước: 12-25 (Book of Genesis, 12-25). Thực ra còn có sắc dân Ả Rập và những tín đồ Cơ đốc giáo sinh sống tại Palestine cũng đều khẳng định có quyền thừa hưởng cơ nghiệp đời đời của tổ phụ Abraham của họ. Nhưng tiếng nói của người Do Thái có trọng lượng hơn.

Văn bản Tuyên Ngôn Balfour được chuyển tới Tổng Thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson và được Tổng Thống chấp nhận trước khi cho đem ra công bố. Các nước đồng minh tham chiến đều tán thành và đề nghị đưa dự thảo kế hoạch đó ra Hội Quốc Liên để thẩm định về việc chia cắt đất đai để thành lập quốc gia Do Thái và quốc gia Palestine. Đây là cơ hội bằng vàng cho các nhà lãnh đạo phong trào phục quốc Do Thái để thực hiện giấc mơ ấp ủ hàng ngàn năm kể từ khi bị người Assyrian lưu đày: tái lập một quốc gia Do Thái tại Palestine còn được gọi miền Đất Hứa (Land of Canaan, Genesis, 17:8 )

Về mặt chính trị, chính quyền Anh khuyến khích các cộng đồng Do Thái đông dân và có thế lực như tại Anh, Mỹ, Gia Nã Đại, Liên Sô, Argentina … tích cực tham gia trận chiến chống Hoàng Đế Đức Kaiser Wilhelm II và Đế Quốc Thổ Nhĩ Kỳ (Ottoman Empire), đồng minh của Đức. Người Do Thái lưu vong hưởng ứng ngay. Họ tình nguyện gia nhập nhiều đơn vị chiến đấu bên cạnh quân đội đồng minh. Đặc biệt tại vùng Trung Đông, họ thành lập một đạo quân chỉ huy riêng rẽ, gồm 5,000 người tình nguyện từ nhiều cộng đồng Do Thái trên thế giới đưa về, được người Anh trang bị vũ khí tối tân, đã hỗ trợ quân đội Anh tiến chiếm Palestine đang nằm dưới sự đô hộ của Đế Quốc Thổ Nhĩ Kỳ.

Khi Thế Chiến Thứ Nhất chấm dứt vào năm 1918, Hội Quốc Liên chấp thuận bản Tuyên Ngôn Balfour rồi trao cho Anh quốc ủy trị, kể từ ngày 19/04/1920, Cổ Thành Jerusalem và tiếp theo toàn thể Palestine. Chính đạo quân 5,000 người hợp nhất với các tổ chức của các quân nhân Do Thái chiến đấu bên cạnh các nước đồng minh trở về Palestine, đã đóng vai trò nòng cốt bảo vệ cộng đồng bé nhỏ Do Thái chống lại khối Ả Rập khổng lồ đe dọa giết hết sắc dân Do Thái. Từ thập niên 1920 đến đầu thập niên 1930, người Do Thái lưu vong ào ạt nhập cư vào Palestine qua ngả chính thức hay bất hợp pháp đã gây ra bất ổn trong vùng.

Các nước Ả Rập láng giềng với Palestine như Ai Cập, Jordan, Syria, Lebanon và Iraq chống đối kịch liệt sự chia cắt đất đai trên và chuẩn bị dùng sức mạnh quân sự để ngăn chặn người Do Thái di dân vào Palestine nên chính quyền Anh có lúc đã phải hạn chế sự di dân. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo phong trào phục quốc Do Thái không ngớt đưa người nhập cư lậu và đổ tiền vào cộng đồng Do Thái để mua, bất cứ giá nào, càng nhiều càng hay, các trang trại của người Palestine. Họ đã thành công mua được một số đất đáng kể và cộng đồng của họ ngày một lớn mạnh. Ngoài ra, các tổ chức phục quốc Do Thái còn mua các loại vũ khí hiện đại ở chợ đen rồi nhập lậu vào Palestine để phòng thủ. Ít lâu sau, các chuyên gia đã bắt đầu sản xuất các loại vũ khí nhẹ để trang bị cho người dân tự vệ trong các trang trại hoặc khu định cư mới được gọi Ki-Bút (Kibbutz) mà Đệ Nhất Cộng Hòa của chúng ta mô phỏng phần nào để lập Khu trù mật và Ấp chiến lược vậy.

Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ ngày 1-9-1939, Hội Quốc Liên dời Trụ sở tới Hoa Kỳ rồi giải tán. Hồ sơ cùng tài liệu được chuyển qua tổ chức quốc tế mới ra đời năm 1945 lấy tên Liên Hiệp Quốc. Dựa vào nguyên tắc của sự liên tục quyền hành, LHQ cứu xét kế hoạch chia cắt đất đai tại Palestine. Đại Hội Đồng LHQ họp và chấp thuận kế hoạch thành lập 2 quốc gia Do Thái và Palestine trong cuộc bỏ phiếu ngày 29/11/1947 với 33 phiếu thuận, 13 chống và 10 phiếu trắng. Khối Ả Rập bác bỏ.

Thời hạn ủy trị Palestine hết hạn ngày 14/5/1948. Chính quyền Anh giao lại Palestine cho Hội Đồng Ủy Trị LHQ rồi rút 100,000 quân cùng lực lượng cảnh sát và an ninh ra khỏi Palestine. Ngay vào ngày hôm đó tức 14/5/1948, Hội Đồng Quốc Gia Do Thái tuyên bố thành lập nước Do Thái và đưa ra thành phần chính phủ. Vào ngày hôm sau 15/5/1948, quân đội của 4 nước Ả Rập Ai Cập, Jordan, Syria, Lebanon và quân tình nguyện Iraq tràn vào Palestine quyết tâm bóp chết nước Do Thái mới ra đời. Quân đội và dân quân Do Thái đẩy lui tất cả các cuộc tấn công mà còn chiếm thêm đất đai của dân Ả Rập Palestine. Hội Đồng Bảo An LHQ can thiệp. Hai bên ngưng chiến ngày 7/1/1949. Và ngày 11/5/1949, Do Thái được chính thức chấp thuận gia nhập LHQ. (1)

Từ ngày nước Do Thái ra đời cho đến năm 1982, đã xẩy ra 5 cuộc chiến giữa Do Thái và các nước Ả Rập. Với dân số 2 triệu rưỡi (năm 1967), Do Thái đã đánh bại quân đội của khối Ả Rập 110 triệu dân, chẳng những chiếm trọn vẹn Palestine mà còn đánh chiếm bán đảo Sinai của Ai Cập và Cao nguyên Golan của Syria.

Người viết sẽ lướt qua bối cảnh chính trị trong vùng Trung Đông và địa lý Palestine trước khi xảy ra 5 cuộc chiến mà chỉ khai triển cuộc chiến 6 ngày xảy ra vào tháng 6 năm 1967 giữa Do Thái và 4 nước Ả Rập lân bang với Palestine vì cuộc chiến đó được coi như thuyết đánh phủ đầu đúng nhất để tự vệ. Nhưng tại sao Hội Đồng Bảo An LHQ và hầu hết các nước trên thế giới đã lên án Do Thái? Cuộc xung đột và nổi dậy của dân Palestine từ khi nước Do Thái ra đời năm 1948 diễn ra từ đó cho đến nay, trên nửa thế kỷ, sẽ đi về đâu?

I-Một thoáng nhìn vùng Trung Đông và Palestine
1-Bối cảnh chính trị.


Từ khi có lịch sử viết ta thấy Trung Đông là khu vực chiến lược vô cùng quan trọng đã trở nên đấu trường của các quyền lực chính trị trên thế giới. Người Anh và Pháp coi Trung Đông như một hành lang mở cửa đi vào thuộc địa mênh mông của họ tại Phi Châu và Á Châu. Khi Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ vào năm 1939, các nước Đồng Minh đã sử dụng các đường bay trên bầu trời Trung Đông để phục vụ chiến trường chống Trục Phát Xít Đức, Ý và Nhật. Vào những thập niên gần đây, nguồn cung cấp lớn lao dầu hỏa và khí đốt cho các nước kỹ nghệ hàng đầu trên thế giới đã lôi cuốn nhiều quyền lực chính trị nhảy vào Trung Đông để gây ảnh hưởng và chia chác quyền lợi khai thác túi dầu lửa lớn nhất trên quả địa cầu. Hai cuộc chiến giữa Do Thái và Ả Rập xẩy ra năm 1967 và 1973, Liên Sô dự tính đưa tàu chiến và quân đội nhảy dù vào giúp các nước Ả Rập để chia khu vực ảnh hưởng với thế giới tự do, suýt gây ra cuộc khủng hoảng nghiêm trọng có thể châm ngòi nổ cho Đệ Tam Thế Chiến.

Palestine nằm cạnh Kinh đào Suez, một đường giao thông huyết mạch nối liền với hành lang đi vào Châu Phi và Á Châu, có một vị trí chiến lược đặc biệt đối với Đế quốc Anh. Vào đầu thế kỷ 20, nhiều nhân vật cao cấp trong chính quyền Anh muốn tạo một cơ sở hợp lý để cho ra đời một quốc gia thân hữu đáng tin cậy, trấn giữ Palestine, khu vực trọng yếu được coi như một móc xích nối kết với hành lang đi vào Phi Châu và Á Châu trình bày ở trên. Đó là sự khai sinh ra quốc gia Do Thái. (2)

Theo sử gia Amos Jorder và Hal Kosut, đàng sau bản tuyên ngôn Balfour là cả một công cuộc đấu tranh kiên trì từ nhiều thế kỷ, của hàng triệu người Do Thái lưu vong khắp nơi trên thế giới. Nhà tư tưởng Do Thái, Bác sĩ Theodor Herzl, đã phổ biến vào năm 1897 Chủ nghĩa phục quốc Do Thái (Zionism) trong tác phẩm “Quốc gia Do Thái” (The Jewish State) có ảnh hưởng rất mạnh trên chính trường Anh, Đế quốc hùng mạnh nhất thời bấy giờ.

Người lãnh đạo phong trào phục quốc của 600,000 người Do Thái tại Anh, Lord Rothschild đã vận động và thuyết phục Tổng Trưởng Ngoại Giao Anh Lord Arthur James Balfour chấp nhận đưa mục tiêu của phong trào phục quốc Do Thái vào chính sách của bản tuyên ngôn Balfour. Chính quyền Anh đáp ứng nguyện vọng của Cộng đồng Do Thái cho tái thiết lập quốc gia Do Thái tại Palestine. Sự kiện trên cũng rất phù hợp với chiến lược của Đế quốc Anh tại Trung Đông đang giúp một số quốc gia Ả Rập nổi dậy lật đổ Đế Quốc Thổ Nhĩ Kỳ đô hộ suốt 4 thế kỷ vùng hiểm yếu này (Ottoman Turks-1517-1917)

2- Palestine

Palestine bao gồm một dải đất nằm ở ven biển Địa Trung Hải, giáp ranh với Ai Cập, Jordan, Syria và Lebanon diện tích 10,434 dặm vuông. Khi người Anh xâm chiếm Palestine vào năm 1918, dân số lúc đó có khoảng 70,000 người Do Thái so với 650,000 người Ả Rập. Hai năm sau, Hội Quốc Liên giao chính quyền Anh ủy trị Jerusalem và tiếp theo toàn thể Palestine. Cuộc kiểm tra vào năm 1920 cho thấy tổng số dân cư ngụ tại Palestine có 757,182 người-78% người Ả Rập, 11% dân Do Thái và 9% người theo Cơ Đốc Giáo.

Được sự khuyến khích của chính quyền Anh cho phép nhập cư dễ dãi, phong trào phục quốc Do Thái đã tổ chức đưa nam nữ thanh niên cùng các chuyên gia lỗi lạc đủ mọi lãnh vực trở về Palestine để xây dựng một quốc gia Do Thái hùng mạnh trong vùng. Do đó, dân Do Thái không ngừng gia tăng. Đang là sắc dân thiểu số chỉ chiếm 11% vào năm 1920 nói trên, đến đầu thập niên 1930, dân số Do Thái tăng lên 30%. Đến năm 1967, nhờ vào cuộc chiến xâm lấn đất đai (1948 và 1967), ta thấy dân số Do Thái đã đạt được 2 triệu rưỡi. Tiếp theo hai cuộc chiến chót (1973 và 1982) và cho tới năm 2001, tổng số dân Do Thái đã lên đến 6,172,000 người với diện tích 8,000 dặm vuông (20,000 cây số vuông) trong tổng số diên tích 10,434 dặm vuông cho toàn thể Palestine. Nếu lùi lại vào năm 1860, ta thấy chỉ có khoảng 12,000 người Do Thái hầu hết làm nghề thủ công và buôn bán tại Palestine. Nhưng đặc biệt về hậu bán thế kỷ 20, đà gia tăng nhanh dân số mong muốn nằm trong sách lược an ninh của những nhà lập quốc Do Thái.

Sau trận chiến 6 ngày, Do Thái thắng trận đã kiểm soát toàn thể Palestine và đã đưa người Do Thái tới định cư tại các vùng chiếm đóng. Do đó, đất đai của quốc gia Palestine dự kiến dần dần bị thu hẹp, chỉ còn Dải Gaza Strip và vùng đất rộng nằm phía Tây Sông Jordan được gọi là Tây Ngạn (West Bank) với số diện tích còn lại 2400 dặm vuông. Cuộc kiểm tra của LHQ vào năm 1967 cho thấy có 1,288,000 người Palestine còn ở lại trong vùng chiếm đóng của quân đội Do Thái và 1 triệu rưỡi người Palestine chạy qua tị nạn tại các quốc gia Ả Rập trong vùng, nhiều nhất tại Jordan với 60 vạn người.
Hiện nay, người Palestine tại Dải Gaza Strip và Tây Ngạn ước tính có 4 triệu (không kể người Do Thái gốc Ả Rập Palestine) nhưng số dân Palestine tị nạn được cơ quan cứu trợ của LHQ lên tới 2 triệu 4. Nay những người này đòi trở về mảnh đất của họ bị người Do Thái chiếm đoạt trong hai cuộc chiến 1948 và 1967 (3)

II- Cuộc chiến Sáu Ngày
1-Trước tháng 6 năm 1967

Trận chiến đầu tiên giữa Do Thái và các nước Ả Rập bao quanh Palestine xảy ra ngay khi Do Thái ra đời năm 1948 đến tháng Giêng năm 1949 kết thúc qua cuộc đình chiến ấn định biên giới mới của Do Thái. Ngoài phần đất được LHQ chia cắt thành lập quốc gia Do Thái lúc khởi đầu vào năm 1947 với 5,760 dặm vuông, Do Thái dựa vào cuộc chiến giành độc lập năm 1948, đã chiếm thêm 2,240 dặm vuông đất đai của dân Ả Rập Palestine rồi sát nhập vào lãnh thổ của họ. Theo các sử gia tên tuổi tỷ như Amos Yoder và Micheal Polland, các nước Ả Rập tham chiến thua thảm bại đã đầu hàng ngày 7/1/1949 vì quân đội không được huấn luyện chu đáo, thiếu vũ khí, lại kình địch nhau nên không thể thống nhất chỉ huy để đánh bại Do Thái. Trong khi đó Do Thái được trang bị võ khí hiện đại và tư tưởng của chủ nghĩa phục quốc rất cao, lại còn được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của các quyền lực chính trị Âu Mỹ nên đã đánh bại cuộc tấn công của khối Ả Rập vây quanh để bành trướng lãnh thổ.
Đến năm 1956, Do Thái nghiễm nhiên trở nên một quốc gia hùng mạnh trong vùng, đã tham gia Liên quân Anh Pháp hành quân vào bán đảo Sinai, Ai Cập để bảo vệ kinh đào Suez khi Tổng Thống Ai Cập Gamel Abdel Nasser tuyên bố quốc hữu hóa kinh đào này vào ngày 26/07/1956. Sự kiện trên xẩy ra đúng như viễn kiến của các chiến lược gia Anh mong muốn duy trì đường lối cai trị của Anh không có người Anh vẫn tiếp diễn cho đến nay qua sự khai sinh ra quốc gia Do Thái trấn giữ vùng trọng yếu ở Trung Đông vậy.

Bị ám ảnh và cảm thấy nhục nhã vì thua trận năm 1949, Tổng Thống Ai Cập Nasser ngả theo đường lối thân thiện với Liên Sô và Tiệp Khắc để nhận nguồn viện trợ tài chánh và vũ khí hiện đại nhằm tiêu diệt kẻ thù bé nhỏ Do Thái mới ra đời. Ba ngàn cố vấn quân sự Liên Xô vào Ai Cập và cho đến năm 1971, con số cố vấn này tăng lên đến 20,000 người, chưa kể các cố vấn tại các quốc gia Ả Rập khác.

Là một quốc gia Ả Rập lớn nhất và mạnh nhất trong vùng, Ai Cập ký Hiệp Ước Phòng Thủ Hỗ Tương với Syria được 12 nước trong Liên Đoàn Ả Rập hỗ trợ để hủy diệt Do Thái. Từ đó, tình hình biên giới giữa Syria và Do Thái ngày một căng thẳng. Các cuộc đột kích và xung đột vũ trang đẫm máu cứ leo thang khiến Liên Đoàn Ả Rập kêu gọi Ai Cập phải trả đũa. Bắt đầu từ tháng 5 năm 1967, Đài phát thanh Cairo, Ai Cập kêu gọi dân chúng Ả Rập trong vùng dưới sự chiếm đóng của Do Thái nổi dậy và Tổng Thống Nasser ra lệnh chuẩn bị cuộc chiến tấn công Do Thái. Tiếp theo, TT Nasser tuyên bố phong tỏa eo biển Tiran. Cuộc chiến giữa Do Thái và các nước Ả Rập khó tránh khỏi vì cuộc phong tỏa là một hành động chiến tranh.

2- Tương quan lực lượng quân sự

Theo Viện Nghiên Cứu Chiến Lược tại Luân Đôn, lực lượng quân sự giữa hai phe được liệt kê như sau:
- Do Thái: 240.000 quân và dân quân, 800 chiến xa, ít nhất 350 máy bay
- Ai Cập: 240,000 quân, 1200 chiến xa, 550 máy bay, hầu hết của Liên Sô
- Syria: 60,000 quân, khoảng 600 chiến xa, hầu hết của Liên Sô, và ít nhất 100 máy bay Sô Viết
- Jordan: 50,000 quân, khoảng 132 chiến xa, và 12 chiến đấu cơ
- Iraq: 70,000 quân, 400 chiến xa và ít nhất 200 máy bay
- Lebanon: 12,000 quân, 80 chiến xa, 20 máy bay
- Kuwait: 5,000 quân, 24 chiến xa, 9 máy bay
- Algeria: 60,000 quân, 100 chiến xa, 100 máy bay

Như vậy, Do Thái phải chống lại 7 nước Ả Rập nói trên với 547,000 quân sĩ, 2536 chiến xa và 991 máy bay đủ loại của Liên Sô, chưa kể một số nước khác nằm trong Liên Đoàn Ả Rập sẵn sàng gửi quân tham chiến nếu được yêu cầu tỷ như Saudi Arabia, Morocco, Yemen, Tunisia, Libya và Sudan.

3- Do Thái Ra Tay Đánh Trước

Vào cuối tháng 5 năm 1967, Tổng Thống Nasser tuyên bố phong tỏa Vịnh Aqaba khiến Hải cảng Eilat của Do Thái không thể đưa tàu bè đi qua eo biển Tiran để vào Hồng Hải (Mer Rouge). Tiếp theo, TT Nasser ra lệnh chuyển 60,000 quân tinh nhuệ tiến vào bán đảo Sinai gần biên giới Do Thái.

Sáng sớm thứ hai ngày 5/6/1967, Do Thái bất thần ra tay đánh trước bằng không lực. Các loại máy bay ném bom và khu trục như Mirage, Mystère, Super Mystère, Ouragan, Vautour, Fouga Magister hướng vào Ai Cập, Jordan, Syria và Iraq, giội bom và bắn phá hết các máy bay đang đậu ở 25 phi trường cùng các nơi tập trung chiến xa. Chỉ trong vòng 4 tiếng đồng hồ, không lực Do Thái đã tiêu diệt hơn 400 máy bay và trên 700 chiến xa. Quân lực của 4 nước Ả Rập trên bị tê liệt không kịp phản ứng trả đũa.

Sang ngày thứ hai và thứ ba, Hội Đồng Bảo An LHQ kêu gọi hai bên ngưng chiến. Jordan hưởng ứng nhưng quân đội và dân quân Do Thái ào ạt tấn công chiếm Đông Jerusalem, Tây Ngạn (West Bank trước đây nằm trong Vương Quốc Hachémite Jordanie) và Dải Gaza Strip thuộc quyền quản trị của Ai Cập.

Sang ngày thứ tư, bộ binh và dân quân Do Thái tấn công như vũ bão chiếm bán đảo Sinai và Kinh đào Suez. Quân đội Ai Cập thua trận với tổn thất nặng: 20,000 quân bị giết, 7 sư đoàn bộ binh bị mắc kẹt trong vùng sa mạc không có nước uống, 6,000 binh sĩ đầu hàng và 400 chiến xa rơi vào tay quân đội Do Thái. Ai Cập chấp nhận ngưng bắn.

Sang ngày thứ năm và thứ sáu, Syria chấp thuận ngưng chiến nhưng lực lượng quân sự Do Thái vẫn tiến chiếm Cao nguyên Golan mở đường tiến vào thủ đô Damacus của Syria. Tới đây, quân đội nhận được lệnh dừng quân. (4)

Tù binh Ai Cập dưới họng súng của binh sĩ Do Thái

Tóm lại, Do Thái đã chiếm Cao nguyên Golan, Đông Jerusalem, Tây Ngạn (West Bank), Dải Gaza Strip và bán đảo Sinai với 759 chiến binh hy sinh trong cuộc chiến Sáu Ngày. Nếu kể tổn thất từ cuộc chiến giành độc lập năm 1948, cuộc hành quân vào bán đảo Sinai năm 1956 và cuộc chiến Sáu Ngày, tổng cộng có 7,506 quân sĩ Do Thái tử trận nhưng Do Thái đã chiếm trọn vẹn Palestine và bán đảo Sinai. Bán đảo này được trả lại cho Ai Cập năm 1982 theo các điều khoản qui định của Hiệp Ước Washington năm 1979.

III Vài hàng tạm kết

Cuộc chiến Sáu Ngày đã gây ra sự đối đầu giữa hai siêu cường Hoa Kỳ và Liên Sô có thể châm ngòi nổ cuộc chiến hạt nhân nếu hai bên không tự chế. Ít nhất 10 tàu chiến Liên Sô chở quân nhẩy dù đã hướng tới Vịnh Aqaba, nơi đang diễn ra cuộc giao tranh tại bán đảo Sinai, Ai Cập. Trong khi đó, Hạm Đội Thứ Sáu của Hoa Kỳ tại Địa Trung Hải điều động 50 tàu chiến và 3 hàng không mẫu hạm với 25,000 thủy thủ và 2,000 thủy quân lục chiến sẵn sàng can thiệp.

Theo các sử gia, Thủ Tướng Liên Sô Alexi Kosygin đề nghị với Tổng Thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson cùng đưa quân vào chặn đứng cuộc chiến và buộc Do Thái phải rút hết quân ra khỏi các vùng mới chiếm. Hoa Kỳ từ chối. Đúng vào lúc tình hình căng thẳng đó, có hàng không mẫu hạm Intrepid đi vào Vịnh Suez, Tòa Bạch Ốc vội cải chính chiếc mẫu hạm đó phục vụ chiến trường Việt Nam chứ không dính dáng tới cuộc chiến Sáu Ngày đang tiếp diễn tại Trung Đông. May mắn thay, Điện Cẩm Linh giữ yên lặng. Thế giới thoát khỏi cuộc khủng hoảng nghiêm trọng gấp bội phần so với cuộc khủng hoảng hỏa tiễn tại Cuba năm 1962

Cuộc chiến Sáu Ngày kết thúc.

Rối loạn bắt đầu vì Do Thái không tuân thủ Nghị Quyết 242 và 338 của Hội Đồng Bảo An LHQ ra lệnh rút quân khỏi các lãnh thổ mới chiếm và thi hành Luật chiếm đóng được tóm lược như sau:

1-Vi phạm điều 51 Hiến Chương LHQ

Khi ra tay đánh trước để tự vệ, Do Thái phải báo cáo ngay Hội Đồng Bảo An về những hành động đã thực hiện để Hội Đồng đưa ra những biện pháp thích nghi trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Do Thái đã không báo cáo theo thủ tục đòi hỏi của điều kiện thứ 2 trong Hiến Chương LHQ. Thậm chí khi Hội Đồng Bảo An kêu gọi hai bên ngưng chiến, ba nước Ai Cập, Jordan và Syria chấp nhận ngay nhưng Do Thái không tuân hành cứ tiếp tục tiến chiếm xong mục tiêu chiến lược rồi mới dừng quân.

2- Không thi hành luật chiếm đóng

Theo tiền lệ của quân đội Đồng Minh chiếm đóng Đức- Nhật, Hiệp Ước The Kellogg-Briand Pact và Công Ước Geneva IV 1949, quân đội chiếm đóng có nhiệm vụ phải duy trì an ninh và bảo vệ thường dân vô tội, phục hồi đời sống bình thường như cung cấp điều hòa điện nước, không được chia cắt đất nước chiếm đóng và quan trọng hơn hết mang lại tự do dân chủ cho người dân. Sau đó, phải trao trả quyền hành cho chính quyền hợp pháp rồi rút lui.
Do Thái đã không làm như vậy. Chính quyền Do Thái đã trục xuất người dân ra khỏi nhà, chiếm đất để thiết lập các khu định cư mới, đổi tên Tây Ngạn ra Judée- Samarie, sát nhập Cao Nguyên Golan (1981) vào lãnh thổ Do Thái, Chiếm toàn thể Jerusalem làm thủ đô (1981) mà đáng lẽ là thủ đô Liên Bang cho hai nước Do Thái và Palestine.(5)

Hiện nay, viện cớ chống khủng bố và ôm bom tự sát, Do Thái đang dựng hàng rào nằm sâu trong lãnh thổ và bao quanh Tây Ngạn, chiều dài 450 dặm liên hợp với những bức tường, chướng ngại vật giăng dây thép gai, đường hào với mục đích, theo sự tố cáo của chính quyền Palestine, lấn đất để lập một biên giới mới.

Việc dựng hàng rào chia cắt lãnh thổ Tây Ngạn đã được đưa ra Đại Hội Đồng LHQ quyết định. Ngày 8-12-2003, Đại Hội Đồng chấp thuận Nghị Quyết yêu cầu Pháp Viện Quốc Tế (The International Court of Justice) cho ý kiến pháp lý để xem việc xây dựng hàng rào đó có hợp pháp hay không? Cuộc bỏ phiếu cho thấy 90 nước chấp nhận, 8 chống, với 74 phiếu trắng. Hoa Kỳ, Do Thái, Úc, Ethiopia và 4 tiểu quốc ở hải đảo Thái Bình Dương chống Nghị Quyết nói trên. (Nhật báo The Washington Post ngày thứ ba 9-12-2003)

3-Phá vỡ bế tắc

Mặc dầu đã có Hội Nghị Hòa Bình ở Madrid năm 1991, Thỏa Ước Hoa Thịnh Đốn năm 1993 và Geneva, những cuộc xung đột đẫm máu vẫn xảy ra tỷ như 2 năm gần đây đã giết chết 3,000 người, trong số đó có 2,200 người Palestine. Kế hoạch hòa bình do sáng kiến ngoại giao của bốn thành phần được gọi Quartet, gồm Nga, Âu Châu, LHQ và Hoa Kỳ đưa ra lộ đồ “road map”, từ 3 năm nay, để khai sinh ra quốc gia Palestine vào năm 2005 không đạt được kết quả mong muốn. Do đó, nhiều nhà lãnh đạo uy tín trên thế giới đề nghị cần phải có sự can thiệp quốc tế, đưa quân vào Palestine mới có thể giải quyết được cuộc xung đột Do Thái-Palestine.

Kết thúc bài viết này, chúng tôi xin trích Sứ Điệp của Tòa Thánh nhân ngày Hòa Bình thế giới lần thứ 37, 1.1.2004, được gửi tới các vị nguyên thủ quốc gia và công bố cho công luận thế giới. Sứ Điệp kêu gọi “Gây ý thức từ hạ tầng dân chúng qua các công tác giáo dục về hòa bình, cổ võ sự tôn trọng công pháp quốc tế, nâng cao vai trò của LHQ, loại bỏ chủ trương dùng luật của sức mạnh thay vì dùng sức mạnh của luật pháp.” (Chân Lý, Tập 11, Số 1, 2004, trang 57). Quả vậy, muốn xây dựng một nền hòa bình chân chính và lâu bền không thể hy sinh công lý. Sức mạnh không đi theo công lý sẽ trở nên tàn bạo.

Hiện nay, các quyền lực chính trị ở Trung Đông chưa kết hợp được hòa bình với công lý nên không đưa ra được giải pháp nào công bằng và hợp lý để chấm dứt cuộc xung đột đẫm máu, kéo dài trên nửa thế kỷ, giữa người Do Thái và người Ả Rập tại Palestine.
Vậy chúng ta hãy chờ xem.

Nguyễn Văn Thành

Chú thích:
(1) -The Evolution of the United Nations System- Second Edition-Amos Joder
-The Six- Day War-United Nations-The First Fifty Years-Stanley Meisler
(2 & 3) – Israel & the Arabs: The June 1967 War-Edited by Hal Kosut.
-Lightning out of Israel-The Arab-Israel Conflict by the Associated Press- Commemorative Edition
(4) -Strike First! – A Battle History of Israel’s Six- Day War-David Dayan-Translated from the Hebrew by Dov Ben-Abba, Pitman Publishing Corporation New York Toronto London
(5)-The Laws of War-A Comprehensive Collection of Primary Documents on International Laws Governing Armed Conflict- Edited with an Introduction and Commentary by W. Michael Reisman and Chris T. Antoniou

(Sưu tầm internet)

========

ENTRY LIÊN QUAN

Cuộc chiến một thế kỷ

Học gì khi làm ăn với người Do Thái

====================================================

LỜI HAY Ý ĐẸP

KHAI SÁNG LÀ SỰ THOÁT LY CỦA CON NGƯỜI RA KHỎI TÌNH TRẠNG VỊ THÀNH NIÊN DO CHÍNH CON NGƯỜI GÂY RA. VỊ THÀNH NIÊN là sự bất lực không thể vận dụng trí tuệ của mình một cách độc lập mà không cần sự chỉ đạo của người khác. Tình trạng vị thành niên này là do TỰ MÌNH GÂY RA, một khi nguyên nhân của nó không phải do sự thiếu sót trí tuệ, mà do sự thiếu sót tính cương quyết và lòng can đảm, dám tự mình dùng trí tuệ phục vụ cho mình mà không cần đến sự chỉ đạo của người khác. Sapere aude! Hãy có can đảm tự sử dụng trí tuệ CỦA CHÍNH MÌNH! đó là câu phương châm của Khai Sáng. (Immanuel Kant – triết gia Ðức)

17
Tháng 1
09

Cuộc chiến một thế kỷ

Cuộc chiến một thế kỷ

Cuộc tấn công của Do Thái vào giải Gaza sớm muộn gì rồi cũng phải ngưng. Nhưng người ta không rõ cuộc đình chiến kéo dài được bao lâu vì xung đột Do Thái Palestine đã dai dẳng cả 100 năm nay rồi. Đây là lần thứ tư, quân đội Do Thái tiến vào Gaza. Lần đầu năm 1948, lần thứ hai năm 1956, lần thứ ba trong cuộc chiến 6 ngày năm 1967. Do Thái chiếm đóng Gaza từ đó cho đến mãi năm 2005 mới tự rút lui. Và lần này là lần thứ tư cách đây 2 tuần lễ, Do Thái đã mở cuộc không tập và hải pháo, sau đó đêm thứ bảy tuần trước bộ binh tiến vào Gaza để truy lùng và tiêu diệt các ổ pháo kích của dân quân Hamas thường xuyên nã vào miền Nam Do Thái.

Vào thời kỳ của 2 thế kỷ đầu của Công Nguyên nghĩa là vào những năm 100, 200 của Dương lịch, lãnh thổ Do Thái bị tàn phá bị chiếm đóng, dân Do Thái bị phân tán chạy sang Âu Châu, sang Nga. Một số ít ở lại sống vất vưởng ở các làng xóm hoặc vùng ngoại ô các đô thị. Sau này, vào thời kỳ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, các cường quốc Anh – Pháp với sự thỏa thuận của Nga đã phân chia vùng Trung Đông và chia nhau cai trị. Người Do Thái định cư ở các nước đã quy tụ và hình thành những Cộng đồng mạnh. Năm 1820 người Do Thái ở Nga khởi xướng lên chủ quyết Zion với mục đích thành lập một quốc gia Do Thái được luật pháp bảo đảm. Nhưng mãi đến những năm 1930 khi bị chế độ phát xít Đức quốc xã truy nã tàn sát, người Do Thái định cư ở các nơi mới ồ ạt hồi hương trở lại miền Đất Hứa của tổ phụ dân Do Thái. Họ mua lại ruộng đất và tổ chức thành một Cộng đồng Do Thái lớn mạnh dần.

Năm 1947 Liên Hiệp Quốc chấp thuận chia lại bản đồ Trung Đông. Ngày 14/5/1948 Tuyên Ngôn thiết lập quốc gia Do Thái được công bố và được Hoa Kỳ và một số quốc gia Tây Phương công nhận ngay. Nhưng ngay ngày hôm sau ngày 15/5/1948 liên quân Ả Rập gồm Egypt, Syria, Jordan, Lebanon, Iraq đã tấn công quốc gia vừa mới ra đời. Mãi đến ngày 7 tháng Giêng năm 1949 mới đình chiến và Do Thái thắng lợi đã dành thêm được một số đất đai mở rộng hơn lãnh thổ của mình. Dân Do Thái mở rộng dĩ nhiên người dân Palestine phải chạy trốn và họ đã tản cư sang các nước quanh vùng hoặc tập trung trong các trại tỵ nạn trên lãnh thổ Do Thái.

Nước Do Thái như một hòn đảo cô lập giữa biển Ả Rập. Do Thái càng ngày càng mạnh để có thể đứng vững, nhưng Do Thái phải đương đầu rất khó khăn với người Palestine. Một tổ chức kháng chiến Palestine ra đời lấy danh hiệu là tổ chức Giải Phóng Palestine do lãnh tụ Arafat cầm đầu, xử dụng khủng bố và biểu tình ném đá. Tình hình không lúc nào yên. Bảy lần chiến tranh lớn suốt từ 1948 đến nay giữa Do Thái và các nước Ả Rập, giữa các cuộc xung đột lớn là biểu tình bắt cóc, bắn xẻ, đánh bom tự sát, pháo kích. Cả hai bên đều biết rằng võ lực không giải quyết được tranh chấp có tính cách tôn giáo, truyền kiếp và quá khích. Các cường quốc nỗ lực hòa giải, nhưng cả hai bên Do Thái và Palestine đều đưa ra những điều kiện khác biệt nhau. Những nhóm cực đoan của cả hai phía đã làm lỡ nhiều dịp có thể đi đến hòa bình. Tuy nhiên nguyên tắc hai quốc gia dân chủ sống tôn trọng bên nhau đều đã được quốc tế tán thành.

Trở lại cuộc tấn công của Do Thái vào Gaza mục đích là làm ngưng các cuộc pháo kích của Hamas vào Do Thái và làm suy yếu lực lượng dân quân Hamas, củng cố cho Thẩm Quyền của tổng thống Abbas ở Tây Ngạn, cảnh cáo và làm nhẹ ảnh hưởng của Iran. Theo dư luận quốc tế thì Egypt, Jordan, Saudi Arabia và Thẩm Quyền Palestine ở Tây Ngạn đều mong muốn Hamas thất bại vì Hamas và Hezbollad là cánh tay nối dài của Iran. Vũ khí, ngân khoản tiếp viện đều đến từ Teheran.

Một điều kiện của ngưng bắn mà Do Thái đòi hỏi là phải có sự kiểm soát quốc tế để ngăn cản những vụ chuyển lậu vũ khí cho Hamas. Có dư luận cho rằng Do Thái có khi phải nhường một phần lãnh thổ của mình đổi lấy giải Gaza. Phần đất nhường đó liền ngay với Tây Ngạn để có thể thành lập được một quốc gia Palestine quy tụ vào một khu vực và thống nhất giữa hai phe Fatah của Tổng thống Abbas và Hamas.

Gaza là một giải nằm dọc bên bờ biển Địa Trung hải dài khoảng 40 cây số, phía cực nam tiếp giáp với Ai Cập, diện tích chỉ khoảng 360 cây số vuông do nhóm Hamas cai trị cách xa vùng Tây Ngạn của thẩm quyền Tổng Thống Abbas ở phía Đông Bắc của dải Gaza xa nhất khoảng 50 và gần nhất 35 cây số qua phần đất của Do Thái.

Hiện nay cuộc vận động ngưng bắn do Ai Cập và Pháp cùng với Liên Hiệp Âu châu chủ xướng đang nỗ lực ép lực Do Thái cũng như Hamas tuân hành.

Hamas đang tố cáo Do Thái tàn bạo và trưng ra những hình ảnh dã man thê thảm vì chiến dịch quân sự của Do Thái. Quân Dân Hamas đang thực hiện du kích chiến trong thành phố để tiêu diệt quân đội Do Thái. Tuy nhiên Hamas cũng đã bị tổn thất nặng và bắt buộc phải thương thuyết qua trung gian của Egypt vì Pháp cũng như Liên Hiệp Âu Châu không muốn chính thức nói truyện với quân khủng bố Hamas.

Tình hình giữa Do Thái và nhóm Hamas rất phức tạp, chúng ta hãy chờ đợi sự vận động và áp lực của quốc tế đè nặng lên cả hai bên thì mới mong yên tiếng súng. Còn hòa bình chắc chúng ta còn phải đợi lâu hơn nữa. May ra Tân Tổng Thống Hoa Kỳ Obama có thể đạt được một nền hòa bình lâu dài giữa Do Thái và Palestine mà các Tổng Thống tiền nhiệm đã thất bại hoặc còn bỏ dang dở.

(Number2.tk/Vũ Quang Ninh)

MỘT SỐ BÀI VIẾT LIÊN QUAN TRÊN BÁO TRONG NƯỚC:

Lịch sử xung đột giữa Israel và các quốc gia Ảrập.

Lịch sử xung đột Israel và Palestine.

====================================================

LỜI HAY Ý ĐẸP

Bất cứ nơi đâu bạn đến, hãy mang theo con tim.

***

Trí tuệ giàu lên nhờ cái nó nhận vào, con tim giàu lên nhờ cái nó cho đi.

***

Tình yêu đích thực không bao giờ để ta được yên nghỉ.

(Sưu tầm)

Người không được cắp sách đến trừơng thì chỉ ăn cắp vặt trong các toa xe lửa, nhưng người học cao hiểu rộng thì có thể ăn cắp được cả đường rầy xe lửa. (T. Roosevelt)

16
Tháng 1
09

Lịch sử: Giai thoại các danh nhân và con trâu

Lịch sử: Giai thoại các danh nhân và con trâu



16/01/2009

Năm mới Kỷ Sửu đang đến gần, trước thềm năm mới, mời bạn đọc cùng Number2 ôn lại một số giai thoại về các danh nhân Việt Nam có ít nhiều liên quan đến con trâu.

Hoàng đế chăn trâu Đinh Bộ Lĩnh
Ai cũng biết trong sử sách nước ta, vua Đinh Tiên Hoàng xuất thân là một mục đồng hồi bé, chăn trâu cắt cỏ cho người chú là Đinh Thúc Dự. Thuở nhỏ cậu bé Đinh Bộ Lĩnh chăn trâu cùng các bạn nhỏ, thường bày ra trò chia phe đánh trận, tay cầm ngọn cỏ lau dài làm khí giới và cờ phướng lọng quạt, cưỡi trên lưng trâu. Sau này “Cậu bé chăn trâu” trở thành tướng quân họ Đinh oai phong lẫm liệt dẹp được loạn “Thập Nhị Sứ Quân”

xưng đế hiệu là Đinh Tiên Hoàng, mở ra một trang sử mới cho đất nước Đại Cồ Việt…

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cỡi trâu xung trận

Trong trận đánh giặc Nguyên – Mông trên sông Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cỡi voi vượt qua sông Hóa, không may con voi bị sa lầy. Ông đành phải xuống voi. Quân lính cùng nhau ra sức kéo lên nhưng con voi càng bị lún sâu, chẳng hề nhúc nhích. Con voi này đã từng đưa Hưng Đạo Vương xông pha nơi trận mạc. Ông động viên quân lính cố hết sức đẩy con voi ra khỏi bãi lầy… nhưng cuối cùng đành bất lực.

Ngay lúc ấy, có một chú bé chăn trâu chạy đến thưa với ông rằng: “Bây giờ voi không đưa Ngài qua sông được nữa, xin Ngài cỡi lên lưng con trâu của cháu, cháu sẽ giong trâu bơi qua”.

Hưng Đạo Vương nhìn chú bé mỉm cười rồi gật đầu và nói: “Cháu bé giỏi lắm! Thế thì cháu ngồi trước còn ta thì ngồi sau. Cháu ngồi trước thì mới cầm dây thừng giong trâu chứ !”.

Chú bé vâng lời. Đoàn quân sung sướng nhìn vị tướng và chú bé cưỡi trâu sang sông. Hưng Đạo Vương quay lại nhìn con voi bị sa lầy đang chìm dần dưới lớp bùn, ứa nước mắt và nói: “Đến ngày ta thắng trận, ta sẽ dựng tượng voi và cả tượng con trâu này bên bờ sông”.

Đào Duy Từ : Kẻ chăn trâu quân tử

Đào Duy Từ bỏ Đàng Ngoài vào Đàng Trong để đi tìm minh chúa. Những ngày đầu tiên đến đất Hoài Nhơn, chưa gặp người giúp đỡ, ông phải đi ở chăn trâu cho nhà họ Chúc, thuộc thôn Tùng Châu, phủ Quy Nhơn. Một hôm, dắt trâu qua cửa tư thất một vị tướng thì nghe tiếng đọc sách và bàn luận chuyện văn chương, chính sự, ông liền buộc trâu lại đứng nghe. Viên quan thấy vậy liền gọi vào và hỏi:

- Anh có biết chữ không?

- Thưa, tôi vừa nghe các ngài bàn về nho tiểu nhân và nho quân tử. Tôi lấy làm thú vị lắm!

- Thế anh hiểu thế nào là nho quân tử và nho tiểu nhân?

- Thưa ngài, về nho thì tôi chưa được rõ. Tôi chỉ biết đi chăn trâu nên chỉ xin được nói về kẻ chăn trâu. Có kẻ chăn trâu quân tử, có những kẻ chăn trâu tiểu nhân, cũng như các ngài nói về nhà nho vậy. Chăn trâu tiểu nhân là những kẻ dắt trâu ra đồng ăn cỏ, đến tối là dắt trâu về, không nghĩ ngợi, lo lắng chi cả. Còn kẻ chăn trâu quân tử là những kẻ vừa chăn trâu vừa ôn tài, luyện chí, chưa gặp dịp nên tạm theo việc để sinh nhai đó thôi. Sử sách ngày xưa còn ghi lại không hiếm gì kẻ chăn trâu quân tử. Nịnh thích làm tưởng nước Tề, Bách Lý Hề làm tướng nước Tần, trước đều là những kẻ chăn trâu cả đấy!

Viên quan thấy lời lẽ như vậy, đoán ngay đây là một nhân tài, liền báo với chúa Nguyễn dùng lễ mời Đào Duy Từ ra giúp, tạo nên cơ nghiệp nhà Nguyễn ở xứ Đàng Trong.

Thiên Hộ Dương và đội binh trâu

Thiên Hộ Dương là lãnh tụ nghĩa quân ở Đồng Tháp Mười hồi cuối thế kỷ XIX. Ông có tài đặc biệt là cưỡi trâu ra trận. Đã có lần ông đem các thuộc hạ ra bờ kênh xem ông cưỡi trâu từ dưới nước vượt lên bờ. Các tướng cố sức ngăn cản những đường roi của ông nhưng ông đã gạt phăng hết khí giới của họ, thúc trâu tả xông hữu đột khiến mọi người đều thán phục.

Biết ông có tài đặc biệt ấy, nghĩa sĩ Đồng Tháp Mười đều hưởng ứng, đến qui phục dưới cờ ông. Có một người dẫn đến hàng trăm con trâu rừng đã được anh ta thuần phục. Anh điều khiển trâu không cần tiếng la hét, hay dùng roi vọt mà bằng tiếng… mõ. Cứ theo tiếng mõ của anh mà đàn trâu biết tiến, thoái, biết quì phục tùy theo ý của người chỉ huy.

Thiên Hộ Dương đã tiếp nhận người nghĩa sĩ này và giao cho anh ta chỉ huy một trận đánh. Đội quân trâu tuân theo tiếng mõ của anh ào ạt xông vào đội hình bọn giặc. Giặc trở tay không kịp chạy tán loạn. Tiếng mõ bèn chia đàn trâu làm hai toán rượt theo giặc. Giặc bắn ra, đàn trâu cũng biết nghe theo tiếng mõ để tránh đạn vì vậy mà có rất ít con trâu bị thương, còn phía địch thì hoảng loạn, tan rã hàng ngũ. Sau trận đánh thắng lợi này, Thiên Hộ Dương đã phong cho nghĩa sĩ chỉ huy đội quân trâu là Ngưu quân Thượng tướng.

Phạm Phú Thứ: dùng xe trâu đưa nước vào ruộng

Việt sử có ghi, năm 1865, triều đình nhà Nguyễn bắt đầu cho chế xe tát nước bằng sức trâu kéo, phỏng theo cách thức phương Tây. Sở Đốc công chịu trách nhiệm chế tạo 27 cỗ xe để đưa cho các tỉnh từ Phú Yên, Bình Định đến Nghệ An, Thanh Hóa làm mẫu rồi theo đó mà chế tạo.

Giai thoại đất Quảng kể rằng: Khi tiến sĩ Phạm Phú Thứ theo phái đoàn sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp điều đình chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, lúc đến sông Nil (Ai Cập) ông để ý đến loại xe nước giống như bên ta nhưng to lớn và thay vì dùng chân để đạp thì lại dùng trâu để kéo. Ông sai người vẽ lại thật tỉ mỉ hình ảnh và cách vận hành chiếc xe trên. Ông mang về nước bản vẽ ấy rồi đem bàn với các lão nông giàu có tìm cách thực hiện.

Như đã nói, bánh xe giống như bánh xe đạp nước và hoàn chỉnh hơn đem đặt ở bờ sông hay bờ hồ. Cái trục giữa của xe đưa thẳng vào bộ máy chạy toàn bằng các bánh xe có răng cưa theo cách vận hành của đồng hồ quanh một cái trục lớn đứng thẳng. Từ trục ấy đưa ra một đòn gỗ dài mà cuối cùng là nơi bắt ách trâu. Trâu dùng từ một đến hai con và chúng đi chung quanh cái trục dưới ngọn roi của người giữ trâu. Các bánh xe răng cưa vận hành cho trục ngang quay để xe từ từ đưa nước vào máng dẫn nước chảy vào ruộng.

Chiếc xe trâu đầu tiên đóng tại Hòa Vang (Quảng Nam) và được nhân dân mến mộ, dần dần phát triển cách thức dẫn thủy mới mẻ này.

Về sau, người ta tôn ông Phạm Phú Thứ là “hậu tổ” xe trâu (đây là xe trâu đưa nước vào ruộng chứ không phải xe trâu chở rơm rạ hay nông cụ thường thấy). Gọi Phạm Phú Thứ là “hậu tổ” vì “ông tổ” nó ở tận bên sông Nil, xứ Ai Cập.

Cậu bé chăn trâu trở thành tiến sĩ

Xin kể qua về Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn (1825-1889). Ông quê ở xã Lương Điền, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, thuở ấu thơ sống trong một gia đình nghèo khổ, nên ông phải đi chăn trâu cho một phú hộ trong làng. Phú hộ có nuôi một thầy đồ dạy học cho cậu quý tử của mình, hằng ngày ông đi ngang qua phòng học để “nghe lén học lóm”. Khi lùa trâu ra đồng, ông dùng lưng trâu làm bảng, dùng đất sét làm phấn để viết lại những chữ đã học, tiếp thu rất nhanh. Ngày nọ, ông thầy đồ xin gia chủ nghỉ phép về quê, trước khi đi có để lại một bài tập rất khó, lắt léo nhiều điểm cốt ý khiến cho cậu chủ nhỏ điên đầu nhức óc đánh vật với chữ nghĩa trong suốt thời gian thầy đồ vắng mặt. Nguyễn Xuân Ôn bấy giờ mới làm giùm bài cho cậu chủ. Khi ông thầy đồ trở lại, ông kinh ngạc đến sửng sốt vì không thể ngờ cậu chủ lại làm bài quá xuất sắc như vậy. Thầy hỏi dò nơi phú hộ xem thử trong thời gian thầy vắng có vị khoa bảng nào ghé đến nhà chơi hay không, vì thầy chắc chỉ có “cỡ khoa bảng” mới làm được “bài tập hóc búa” mà thầy ra cho cậu chủ. Ông phú hộ khăng khăng là không có ai đến nhà. Vặn hỏi một hồi, cậu chủ cuối cùng khai ra người làm bài tập là “thằng ở đợ chăn trâu”. Thầy đồ lập tức mời Nguyễn Xuân Ôn lên ngồi “ngang mâm cùng chiếu” với mình. Sau đó ông giúp đỡ để “cậu bé chăn trâu” họ Nguyễn được học hành đến nơi đến chốn. Nguyễn Xuân Ôn được thầy thương yêu, hết lòng dốc sức mài sử sôi kinh để báo đáp ân sư. Sau, ông đậu Tiến Sĩ vào năm 1871, làm quan tiến chức dưới triều vua Tự Đức…

NGUYỄN NHÂN THỐNG – MÃN ĐƯỜNG HỒNG




Số người đang online cùng bạn

Photobucket

AVATAR – http://number2.tk

Photobucket

Admin

Xin vui lòng liên hệ qua E-mail: hinhanhblog@gmail.com Thân ái! Numbertwo's blog
PhotobucketPhotobucket

Blog Stats

  • 520,845 lượt truy cập
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket

Đọc báo – Tin mới nhất trên các báo

RSS BBC – Diễn đàn

PhotobucketPhotobucket
Photobucket
Photobucket

RSS Làm đẹp

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Photobucket
Photobucket

RSS Văn hóa – NLĐ online

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket

RSS Sống đẹp – Sức trẻ VN

Photobucket

RSS Yêu – Sức trẻ VN

Photobucket

RSS Home – Kênh 14

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Star – Kênh 14

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Photobucket

RSS Thời trang – Kênh 14

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Photobucket
Photobucket
Photobucket