Quá trình đấu tranh giành độc lập của Đài Loan
Pol
Sơ lược lịch sử các dân tộc Trung Quốc
Từ thời Tần Thủy Hoàng thống nhất 7 nước Chiến Quốc (Yên, Sở, Ngụy, Tề, Thục ..v.v..) và sau đó đó là Trung Quốc (chữ Trung Quốc do thời Tần Thuỷ Hoàng phát minh ra – và bắt đầu sự nghiệp Hán hóa), thì đó chỉ là một vùng nhỏ nằm giữa sông Hoàng Hà và Dương tử ngày nay. Diện tích chỉ khoảng bằng 1/6 Trung Quốc ngày nay.
Sau đó Tần Thủy Hoàng mới cho quân vượt sông Dương Tử đánh chiếm bách Việt (Hoa Nam) nảm về phía nam của sông Dương Tử. Như Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Châu, Quý Châu ..v.v..
Từ Hoa Nam ngoài ám chỉ khu vực Bắc Nam Trung Hoa thời phong kiến, nhưng lại trùng hợp cho 2 nhánh tộc, khu vực Hoa Nam hoàn toàn là khu Bách Việt dưới sông Dương Tử, còn Hoa Bắc là khu vực người Hán (giữa sông Dương Tử và Hoàng Hà). Từ đây sẽ tôi dùng từ Hoa Nam thì xin các bạn hiểu là vùng của Bách Việt ngày xưa, và Hoa Bắc là vùng của tộc Hán.
Cả vùng Hoa Bam và Hoa Bắc của Trung Quốc 1/6 kia, thì có rất nhiều ngôn ngữ, như Phúc Kiến, Quảng Đông (cả Quảng Tây), Việt Nam, Vân Nam, Quý Châu ..v.v.. đều có ngôn ngữ riêng. Và hiện nay các vùng đó vẫn còn giữ ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, dù từ hơn 2 ngàn năm nay bị Hán hoá, hay Nguyên hóa, hay Mãn hóa (dĩ nhiên trừ Việt Nam vì đã “Nước Nam vua Nam ở” thời Lý Thường Kiệt).
Vùng Hoa Bắc cũng thế, cũng có nhiều thứ tiếng, nhưng nay đã “gần như mất hết”, chỉ còn một ngôn ngữ chính là Phổ Thông. Và trớ trêu thay, tiếng Phổ Thông lại không phải là 1 trong các ngôn ngữ tộc Hán, mà là ngôn ngữ của tộc Mãn (Thanh). Dù hơn 2 ngàn năm tộc Hán tìm đủ cách Hán hóa Hoa Nam, nhưng chỉ trong 300 năm Mãn hóa, thì tộc ngôn ngữ tộc Hán lại mất trước.
Vùng cực bắc Trung Quốc ngày nay là bộ tộc Bột Ngạt, bị bộ tộc Nữ Chân (Mãn Thanh) sau này thôn tính. Bộ tộc Nữ Chân mà sau này là Mãn Thanh (xưng nước là Mãn Châu quốc – Manchu) là nước có thủ đô là Bắc Kinh đầu tiên trên đất nước Liêu. Đất Liêu lúc đó ngoài bộ tộc Nữ Chân còn có một bộ tộc khác là Khiết Đan, bộ tộc Khiết Đan hùng mạnh trước, thành lập nước là nước Liêu (kinh đô không phải Bắc Kinh mà là Thẩm Dương ngày nay – khá xa về hướng đông bắc của Bắc Kinh). Sau này bộ tộc Nữ Chân mạnh lên tiêu diệt Khiết Đan, rồi đặt tên nước là Đại Kim sau đó thôn tính luôn Bột Ngạt ở phía cực đông bắc và đặt kinh đô là Bắc Kinh năm 1115. Tiếng Nữ Chân (Mãn Châu sau này) và Bắc Kinh là một.
Sau đó Đại Kim bị Mông Cổ đánh bại, và Mông Cổ chiếm luôn Trung Quốc, đô hộ cả hai nước trong 200 năm. Mông Cổ cũng dùng Bắc Kinh làm kinh đô từ năm 1206.
Về sau Chu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ – Nhà Minh) nổi dậy đuổi được Mông Cổ và dùng Nam Kinh làm kinh đô năm 1368. Khi Chu Nguyên Chương đuổi được Mông Cổ thì nhà Minh thừa hưởng luôn nước Đại Kim đang bị Mông Cổ cai trị.
Chu Nguyên Chương giống Tần Thủy Hoàng, rất e dè quân Mông. Sau khi đuổi quân Mông đi rồi thì ra lệnh tu sửa lại hết Vạn Lý Trường Thành có từ thời Tần, đặc biệt khu vực Bắc Kinh ngày xưa thuộc Đại Kim nằm rất xa ngoài Vạn Lý Trường Thành thời Tần, thì Chu cho xây thêm một nhánh bao bọc cả nước Đại Kim đã thừa hưởng được từ Mông Cổ.
Đến đời cháu Minh Thái Tổ thì lại dời đô từ Nam Kinh về Bắc Kinh (để dễ quản lý Đại Kim chăng?).
Nhưng sau này Nỗ Nhĩ Cáp Xích lãnh Đạo bộ tộc Nữ Chân nổi dậy (không lấy tên là Kim nữa mà lấy tên mới là Mãn Thanh), ông có công lớn thành lập Bát Kỳ Binh của bộ tộc Nữ Chân đã đánh tan nhà Minh và chiếm luôn Trung Quốc 300 năm cho đến năm 1910 (Cách mạng Tân Hợi).
Nỗ Nhĩ Cáp Xích (sau này là Thanh Thái Tổ) dùng kinh đô Đại Kim xưa là Bắc Kinh, và tiếng Bắc Kinh là tiếng chính thức của Trung Quốc ngày nay như có nói ở trên.
Xin nói thêm về Bát Kỳ Binh của Mãn Thanh, mà sau này Mao cũng có Bát Lộ Quân (bắt chước Mãn Thanh?). Bát Kỳ Binh (Bát: 8, Kỳ: cờ), là đội quân chính quy hùng mạnh của Mãn Thanh, chia làm 8 đội binh mỗi đội có một màu cờ khác nhau. Quân sĩ được trang bị tận răng, đầu đội nón sắt, mình mặc giáp sắt, mặt được che bằng lưới sắt, thậm chí ngựa cũng được mặc giáp sắt, khi xung trận thì cầm thương dài không thua kỵ binh Mông Cổ.
Vì là ngôn ngữ chính cho triều đình, nghĩa là ngôn ngữ cho quan lại do đó người ta gọi là tiếng Quan Thoại (Quan đối thoại), từ tiếng của Quan, dần dần dân chúng dùng để trao đổi giữa các vùng miền, và lâu dần không còn riêng cho Quan lại nữa mà thành Phổ Thông, rồi cuối cùng gọi là tiếng Bắc Kinh cho gọn, vì đó là tiếng vùng Bắc Kinh.
Khi Mãn Thanh chiếm được Trung Quốc, thì họ rất hà khắc, bắt dân Trung Quốc phải cạo nữa đầu, tết đuôi sam và theo tục của Mãn. Thậm chí ở một vùng của Hà Bắc dân không chịu theo và chỉ trong một ngày lính Mãn Thanh chém 80.000 (tám chục ngàn) người.
Cũng trong lịch sử Trung Hoa, chưa bao giờ có một sự thay đổi triều đình mà dân chạy ra nước ngoài như triều Thanh vì quá hà khắc. Hoa kiều đi khắp thế giới chủ yếu từ khi Mãn Thanh chiếm Trung Quốc.
Triều đình Mãn Thanh đặc biệt khống chế và đồng hóa vùng Hoa Bắc (Hán) nghiêm khắc. Không biết vì lý do đó, hay vì gần Bắc Kinh hơn mà ngôn ngữ Hán vùng Hoa Bắc gần như chết hết, bây giờ dân chỉ nói tiếng Bắc Kinh. Còn dân vùng Hoa Nam (Việt) thì bây giờ còn giữ được tiếng địa phương.
Ngoài ra, Mãn Thanh xem Trung Quốc lúc đó là dân mọi rợ, và con trai Hán không được lấy gái Mãn, mà chỉ có con trai Mãn thì được lấy gái Hán tùy thích, nhưng khoảng 100 năm sau này thì trai gái Mãn Hán lấy nhau tự do.
Khác với quân Nguyên (Mông Cổ), khi đô hộ Trung Quốc (200 năm) vì Trung Quốc đất rộng người đông, nên không thể không dựa vào quan lại địa phương để cai trị, nhưng nhà Nguyên không bao giờ tin quan lại địa phương, nên dùng người Hồi địa phương để theo dõi khống chế. Dĩ nhiên sẽ được ưu đãi. Còn Mãn thì dùng quan lại dân tộc thiểu số mà ngày trước bị Hán đè đầu để theo dõi khống chế.
Có một sự trùng hợp là từ khi Mao thành công, và chiếm luôn nước Mãn Thanh ngày xưa. Thì từ đó đến nay, lãnh đạo chủ chốt của Cộng sản Trung Quốc đều là người xuất thân từ vùng Hoa Bắc (Hán) như Mao, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Ôn Gia Bảo, Hồ Cẩm Đào …
Dù vùng Hoa Nam chiếm một nửa Trung Quốc ngày nay. Và cũng có rất nhiều “đồng chí” vùng Hoa Nam tham gia cách mạng Trung Quốc ngay từ đầu.
Lịch sử Trung Quốc rất rối rắm. Nhưng một thực tế là tiếng Bắc Kinh không phải là tiếng Hán mà là tiếng Mãn Thanh. Và tiếng Hán đã bị triệt tiêu bởi Mãn, nhưng tộc Mãn đang bị “Hán cai trị”.
Đài Loan: một hòn đảo không được đoái hoài
Các đời Tần Thuỷ Hoàng, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Mãn Thanh… chỉ tập trung vào lục địa, còn Đài Loan là một hòn đảo nghèo, ít dân cư, giao thông khó khăn nên chẳng ai thèm để ý, các triều đại chỉ cho một vị quan và ít lính ra trấn nhậm.
Theo tập tục phong kiến ngày xưa thì các tầng lớp trong xã hội được xếp hạng là theo thứ tự: Sĩ, Nông, Công, Thương. Còn Ngư Phủ là hạng thấp hơn, ít ai nhắc đến. Dù đảo Đài Loan không lớn nhưng cũng có diện tích tương đối, có thể làm nông, trồng trọt, chăn nuôi … nhưng ngư phủ thì thông dụng hơn. Và dân trong Đại Lục ra đảo chỉ là dân Phúc Kiến và là thành phần nghèo kiếm sống.
Do đó, có thể nói dân Đài Loan cho đến thời điểm năm 1945 gần như là thuần chủng Mân Việt. Trong lục địa, thì các tộc Việt khác như Mân Việt (Phúc Kiến), Âu Việt (Quảng Đông) … có thể ít nhiều có bị Hán hóa, hoặc Nguyên hoá, hoặc Mãn hóa. Nhưng Đài Loan có thể nói là rất còn “nguyên thuỷ” Mân Việt cho đến năm 1945.
Quá trình đấu tranh đòi độc lập trong thập niên 1980
Đài Loan (Taiwan) hay còn được gọi là Formosa (Hòn đảo đẹp – do thương nhân Bồ Đào Nha đặt tên vào thế kỷ 17, 18 khi phát hiện và trao đổi buôn bán). Đài Loan bị Phát xít Nhật chiếm đóng đô hộ vào khoảng năm 1895 cho đến khi Nhật đầu hàng Mỹ tháng 8 năm 1945.
Khi Nhật đầu hàng, khoảng trống quyền lực của Đài Loan được Tưởng Giới Thạch nhanh chóng cho quân từ Đại Lục ra đảo chiếm giữ. Quân Tưởng từ Đại Lục ra nắm quyền khá hà khắc với dân bản địa, bắt họ phải nói tiếng Phổ Thông (Bắc Kinh), trường học phải dạy tiếng Phổ Thông, tiếng Phúc Kiến bản địa không được dạy, lấy đất cho dân Đại Lục mới sang… Dân bản địa nổi dậy chống đối mạnh mẽ, và đã bị quân Tưởng thẳng tay đàn áp, giết chết mấy chục ngàn người vào năm 1947 .
Đến năm 1949, sau khi bị Mao đánh bại hoàn toàn, Tưởng dẫn tất cả tàn quân và gia đình binh sĩ, dân chúng không theo cộng sản ra Đài Loan. Tưởng là một chiến tướng với bàn tay sắt, thất bại của ông ta là đã để xổng cho Mao chạy thoát về Diên An. Từ lúc mới chạy ra đảo Đài Loan 1949, Tưởng cứ nghĩ là sẽ có ngày tái chiếm lại Lục Địa. Do đó, Tưởng rất nghiêm khắc về cách tổ chức, tiếng Phổ Thông (Bắc Kinh) phải được phổ biến từ trường học ..v.v.. tiếng địa phương không được dạy, tuyển mộ quân đội, lấy đất ưu đãi cho binh lính, gia đình lính, dân chúng từ Đại lục chạy sang.
Cho đến ngày nay thì tỷ lệ dân chính gốc Đài Loan là khoảng 85%, còn dân gốc từ Đại Lục là khoảng 15%, và hầu hết 85% dân chính gốc Đài Loan muốn độc lập thành 1 nước riêng. Họ không công nhận họ là người Hán, mà là Đài Loan (Mân Việt).
Khoảng cuối thập niên 1970s và đầu thập niên 1980s, dù dưới bàn tay sắt của quân phiệt Tưởng Giới Thạch nhưng phong trào Độc Lập bắt đầu manh nha, những nhóm đòi độc lập bắt đầu đấu tranh âm thầm. Họ bị bắt, bị giết, trù dập dã man, trong đó nổi tiếng nhất là ông Thi Minh Đức, được xem là Nelson Mandela của Taiwan (bị tù hơn 20 năm, được thả dưới thời tổng thống Lý Đăng Huy).
Tưởng Giới Thạch và vợ là Tống Mỹ Linh có 2 người con trai là Tưởng Kinh Quốc (con ruột), và Tưởng Vĩ Quốc (con nuôi).
Năm 1975, Tưởng Giới Thạch mất, Tưởng Kinh Quốc “nối ngôi” tổng thống, dân Đài Loan xầm xì, Kinh Quốc có tuyên bố: “sau Tưởng Kinh Quốc sẽ không có giòng họ Tưởng làm tổng thống nữa”.
Khi Tưởng Kinh Quốc mất vì bệnh (con trai còn rất nhỏ), Tưởng Vĩ Quốc (con nuôi) muốn mẹ nuôi là Tống Mỹ Linh đưa lên làm tổng thống. Nhưng bị Lý Đăng Huy chiếm mất. Và Lý Đăng Huy chính là người gốc Đài Loan đầu tiên làm tổng thống của Đài Loan, sau nhiều thập kỷ họ Tưởng Đại Lục cai trị.
Và chính Lý Đăng Huy dù là đảng viên Quốc Dân Đảng nhưng đã âm thầm tạo điều kiện cho các đảng Đài Loan như Dân Tiến Đảng, mà sau này ông Trần Thuỷ Biển của Dân Tiến Đảng làm tổng thống 2 nhiệm kỳ (lần đầu tiên Quốc Dân Đảng không nắm quyền sau nhiều thập niên). Phải nói thêm, Nếu không có Lý Đăng Huy làm tổng thống, thì không có đảng nào được hoạt động ngoài Quốc Dân Đảng (độc đảng).
Chính phủ Trung Quốc rất căm ghét ông Lý Đăng Huy, từ xưa tới nay Trung Quốc luôn dùng những lời lẽ hằn học, thoá mạ để nói về người này. Dù ông ta đã già và đã nghỉ hưu, Trung Quốc gọi ông ta là kiến trúc sư cho Đài Loan đòi độc lập. Và hiện tại ông ta vẫn còn nhiều ảnh hưởng với chính trường Đài Loan.
Phải công nhận đây là một chính trị gia tài ba kiểu Á Đông. Cái tài của ông là đã loại được Tưởng Vĩ Quốc khi Kinh Quốc mất và chiếm được cảm tình của Tống Mỹ Linh.
Lý Đăng Huy và Đài Loan độc lập
Lý Đăng Huy (1923 – còn sống), sinh trưởng tại Đài Loan, khi lớn sang Nhật học trong thời kỳ Nhật đô hộ (1895 – 1945). Năm 1946 (23 tuổi), ông về lại Taiwan, thấy Quốc Dân Đảng (Kuomingtang) “quá ác” với dân bản xứ không khác gì Phát xít Nhật, ông lén tham gia đảng Cộng sản Trung Quốc một thời gian ngắn, nhưng sau đó bỏ. Sau đó được ông sang Mỹ du học lấy bằng tiến sĩ tại trường Cornell University.
Năm 1971, tham gia Quốc Dân Đảng và tham chính. Với bản chất thông minh ông nhanh chóng leo lên chức vụ cao, rồi làm thị trưởng Đài Bắc, thống đốc Đài Loan, và sau đó từ năm 1984 là phó tổng thống, chỉ sau TT Tưởng Kinh Quốc, năm 1988 Kinh Quốc bị bệnh mất. Tưởng Vĩ Quốc tìm đủ cách để cho mẹ nuôi của mình là Tống Mỹ Linh đưa mình lên làm tổng thống.
Tại thời điểm đó (1945 – 1988), ở Đài Loan không có việc bầu cử, Quốc Dân Đảng nắm tất cả, và hầu hết là người từ Đại lục sang, khi Tưởng Giới Thạch mất, trung ương Quốc Dân đảng rất tôn trọng lời Tống Mỹ Linh. Bà đang nắm quyền “sinh sát” trong tay, khi Tưởng Kinh Quốc mất, chỉ cần Tống Mỹ Linh đồng ý ai thì người đó sẽ là tổng thống. Tống Mỹ Linh, sinh năm 1897, đến năm 1988 khi Kinh Quốc mất, Mỹ Linh đã 91 nhưng rất còn minh mẫn.
Cuối cùng Mỹ Linh đã chọn Lý Đăng Huy và gạt con nuôi Tưởng Vĩ Quốc sang một bên, mặc dù có vài tướng kỳ cựu của Giới Thạch phản đối quyết liệt.
Sau đó vài năm, thì Vĩ Quốc mất, và con trai duy nhất của Tưởng Kinh Quốc, tức là cháu nội của Tống Mỹ Linh cũng chết vì bệnh, năm đó cậu này khoảng hơn 20 tuổi. Thế là dòng họ Tưởng tuyệt tự. Vài năm sau đó khoảng thì Mỹ Linh sang Hawai sống cô đơn và mất tại đó.
Trở lại đề tài chính, sau khi lên làm tổng thống Đài Loan 1988, Lý Đăng Huy vừa là Tổng Thống, vừa là bí thư đảng Quốc Dân, ông đã có nhiều thay đổi trong trung ương đảng. Uỷ ban trung ương có 31 người, thì ông chỉ định 16 người có gốc là Đài Loan, còn gốc Đại lục chỉ còn 15 người.
Năm 1990, tại Đài Bắc có biến cố lớn. Hơn 300.000 sinh viên xuống đường biểu tình đòi thực thi dân chủ toàn diện, người dân phải được bầu chọn tổng thống, nghị sĩ quốc hội …Lý Đăng Huy đã đón tiếp lãnh đạo sinh viên và long trọng xin hứa sẽ cải tố dân chủ toàn diện như sinh viên đòi hỏi.
Đến năm 1991 Liên Xô sụp đổ, thế giới thay đổi, chiến tranh lạnh kết thúc, Đông Âu đã bắt đầu dân chủ (chất xúc tác cho sinh viên Đài Loan xuống đường). Mọi người đều hướng về dân chủ, thậm chí Nam Phi với chủ nghĩa Phân Biệt Chủng Tộc cũng không thể duy trì mãi vì không còn lợi dụng chiến tranh lạnh mà thế giới sẽ làm ngơ, nên đành chủ động thả Nelson Mandela từ ngục tối. Lý Đăng Huy cũng thế, đã thả Nelson Madela của Đài Loan là Thi Minh Đức và giảm truy bức những thành phần đòi độc lập cho Đài Loan.
Sau vài năm chuẩn bị và thay đổi chính sách cũng như chỉnh sửa Hiến pháp 1988 – 1995. Trong thời gian này các đảng phái được tự do hoạt động. Năm 1996, Đài Loan lần đầu tiên tổ chức bầu cử tự do dân chủ đúng nghĩa, có 3 đảng phái chính thức :
1) Quốc Dân Đảng (Kuomingtang) do Lý Đăng Huy ứng cử.
2) Dân Tiến Đảng (Democratic Progressive Party – đảng đòi Độc lập cho Đài Loan).
3) Tân Đảng (New Party – do một nhóm Quốc Dân Đảng bất mãn tách ra).
Và Lý Đăng Huy của Quốc Dân Đảng đã đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ 1996 – 2000. Đây là tổng thống đầu tiên dân cử của lịch sử Đài Loan.
Trước khi bầu cử vài tháng thì Trung Quốc đã dàn rất nhiều hoả tiễn bên kia eo biển ở tỉnh Phúc Kiến, và bắn nhiều quả xuống gần biển Đài Loan. Trung Quốc lên tiếng đe doạ nếu dân Đài Loan bầu cho Dân Tiến Đảng (đảng đòi độc lập) thì sẽ có chiến tranh. Do đó, có nhiều dân Đài Loan dù muốn bầu cho Dân Tiến Đảng nhưng sợ nên đã bầu cho Quốc Dân Đảng, cuối cùng Lý Đăng Huy của Quốc Dân Đảng thắng cử sít sao. Trung Quốc sợ Dân Tiến Đảng thắng cử, thì sẽ tuyên bố độc lập ngay, nên làm rất dữ. Nhưng lọt vào tay Lý Đăng Huy (Kiến trúc sư của Đài Loan độc lập) thì Trung Quốc còn mệt hơn.
Sau khi trở thành tổng thống dân cử đầu tiên tại Đài Loan, Lý Đăng Huy đã có những bước đi táo bạo cho Đài Loan:
1) Thuyết phục được quốc hội chi ra nhiều tỷ dollars sắm sửa trang thiết bị hiện đại cho quốc phòng Đài Loan để không những đủ khả năng tự vệ cho mọi tình huống nếu Trung Quốc tấn công Đài Loan, mà còn đủ khả năng tấn công sâu vào Trung Hoa Đại Lục. Cụ thể có những hỏa tiễn tầm xa có thể đánh sập đập thủy điện Tam Điệp lớn nhất Trung Quốc (và thế giới). Nếu đập này bị đánh sập thì nhiều tỉnh của Trung Quốc sẽ bị ngập trong biển nước, trong đó có các thành phố công nghiệp quan trọng bậc nhất Trung Quốc như Thượng Hải.
2) Thương lượng và ký lại Hiệp ước quân sự Đài Loan – Mỹ. Lần này có thêm Nhật tham gia. Trong đó có điều khoản nếu một nước nào tấn công một trong 3 “đối tác” trên, thì cũng có nghĩa là tuyên chiến với 2 “đối tác” còn lại. Có thể hiểu là nếu Trung Quốc tấn công Đài Loan thì đồng nghĩa với tuyên chiến cả Nhật và Mỹ – một lá bùa sinh tử phù cho Đài Loan.
3) Tuyên bố với thế giới là quan hệ giữa Trung Quốc và Đài Loan phải là State to state (hai quốc gia, có nghĩa là cả hai đều bình đảng như nhau. Trong khi Trung Quốc lúc nào cũng tuyên bố với thế giới là Đài Loan chỉ là 1 tỉnh làm loạn của Trung Quốc.
4) Đẩy mạnh chiến dịch ngoại giao “tiền” (money diplomacy), đó là tìm các nươc nhỏ, nghèo tại Nam Mỹ, Phi Châu, các đảo quốc nhỏ Thái Bình Dương và viện trợ tiền để các nước này công nhận Đài Loan là một nước độc lập. Các nước lớn thì không thể vì có quan hệ làm ăn buôn bán đằu tư tại Trung Quốc, và bị sức ép của Trung Quốc cũng như làm ăn với Trung Quốc có quyền lợi hơn (thị trường 1.3 tỷ, trong khi Đài Loan chỉ có 20 triệu lúc đó, hiện nay là 23 triệu).
Trung Quốc cũng không vừa, tìm đủ mọi cách cô lập Đài Loan, cũng xoay sang dùng lá bài ngoại giao tiền. Các nước nghèo lạc hậu được Đài Loan viện trợ và công nhận Đài Loan cũng được Trung Quốc tiếp cận và chi tiền để công nhận chính sách One China của Trung Quốc, đó là chỉ có một Trung Quốc và Đài Loan chỉ là một tỉnh phản loạn của nước này. Thời thập niên 90s thì Đài Loan có thế mạnh hơn về tiền, lúc đó dự trữ ngoại tệ Đài Loan khoảng 100 tỷ Dollars, còn Trung Quốc chỉ khoảng 15 – 20 tỷ, còn hiện nay thì Trung Quốc là 2.000 tỷ, còn Đài Loan thì cũng chỉ khoảng 100 tỷ. Do đó vào thời 90s, Đài Loan có khoảng 30 nước công nhận, bây giờ chỉ có khoảng 20 nước.
Tại sao có chuyện ngoại giao tiền như trên? Đơn giản là Đài Loan muốn quay lại chiếc ghế trong Liên Hiệp Quốc bị mất năm 1971 về tay Trung Quốc nên đã tìm đủ mọi cách thuyết phục nhiều nước công nhận Đài Loan độc lập, nhưng mọi nỗ lực đều bị Trung Quốc (một trong 5 nước Thường trực Hội đồng Bảo an LHQ ngăn chặn).
Trong thời gian 1996 – 2000, Lý Đăng Huy đã đi những bước táo bạo kể trên cho Đài Loan độc lập, trong thời gian đó Trung Quốc mới nhận chân ra là chính Lý Đăng Huy là kẻ thù nguy hiểm nhất. Trung Quốc đã phô trương nhiều dàn tên lửa bên kia eo biển Đài Loan và tuyên bố: nếu Đài Loan tuyên bố độc lập thì Trung Quốc sẽ đánh. Theo kiểu thâm nho Á Đông, Lý Đăng Huy đáp trả: nếu Trung Quốc đánh thì Đài Loan tuyên bố độc lập. Nhưng thật ra Trung Quốc chỉ dọa suông vì sẽ không bao giờ dám đánh trước vì hiệp ước tay 3 quân sự giữa Mỹ, Đài Loan và Nhật đã đề cập ở trên.
(còn tiếp)
(Sưu tầm internet)








































owned!
































































































Comment - Bè bạn