Bài viết kèm thẻ ‘Hoàng Sa

12
Tháng 2
09

Cuộc Chiến 1979 và Hoàng Sa

Cuộc Chiến 1979 và Hoàng Sa

Ngày 7-2-1979, tại Tokyo, khi ngầm thông báo với báo chí một chiến dịch “trừng phạt” Việt Nam, Đặng Tiểu Bình giải thích: “Hiệp ước mà Việt Nam và Liên Xô ký kết có tính chất đồng minh quân sự. Việt Nam đã mở cuộc xâm nhập vũ trang vào Campuchia và đang khiêu khích ở biên giới Trung Quốc“. Tuy nhiên, nguyên nhân thực sự của cuộc chiến tranh mà Đặng Tiểu Bình thực hiện 10 ngày sau không đơn giản chỉ là những gì được nói ra trong lời tuyên bố ấy.

Hiệp ước mà ông Đặng đề cập là Hiệp ước hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Liên Xô, ký ngày 3-11-1978. Hiệp ước này được ký kết sau khi mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã rất trầm trọng: Trung Quốc yêu cầu Việt Nam đóng cửa 3 tổng lãnh sự quán (6-6-1978 ) và cắt toàn bộ viện trợ (7-1978 ). Ngày 29-1-1979, khi hội đàm ở Mỹ, Đặng Tiểu Bình nhắc tới Campuchia, Afganistan với Tổng thống Jimmy Carter và cảnh báo “nguy cơ phản ứng dây chuyền”. J. Carter “đồng ý với Đặng cách nhìn nhận” ấy. Tuyên bố chung, hai ngày sau đó (1-3), nhấn mạnh, “Trung-Mỹ chống lại bất kỳ quốc gia hoặc tập đoàn quốc gia nào mưu kế bá quyền“. Đặng đã thành công khi sử dụng liên minh Việt-Xô để gieo rắc hoài nghi, khiến Mỹ làm ngơ cho Trung Quốc đánh Việt Nam, bên trong, Đặng không hề đánh giá cao “liên minh” ấy.

Trong hội nghị do Quân ủy Trung ương Trung Quốc triệu tập, bàn “chủ trương” đánh Việt Nam, không ít tướng lĩnh đã cảnh báo nguy cơ bị Liên Xô tấn công. Khi ấy, trên biên giới Trung- Xô, Liên Xô bố trí tới 50 sư đoàn chủ lực. Đặng Tiểu Bình nhận định: “Liên Xô không thể không xét tới nhiều nhân tố quốc tế nên khả năng (vì Việt Nam mà) can thiệp vào Trung Quốc là rất ít“. Trên thực tế, một tuần sau khi Trung Quốc đánh Việt Nam, không thấy Liên Xô “ra tay”, Trung Quốc đã đánh tiếp sang thị xã Lạng Sơn, và chỉ rút khi trên hướng này Quân Đoàn II xuất hiện.

Tại thời điểm Đặng tuyên bố với báo chí, 7-2-1979, quân đội Việt Nam có mặt ở Phnompênh vừa tròn một tháng, nên “yếu tố Campuchia” có vẻ như rất dễ thuyết phục. Nhưng, theo cuốn sách “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt” của NXB Đại học Tứ Xuyên, công bố năm 1993, ngay trong Hội Nghị Quân ủy Trung ương, từ 7 đến ngày 9 tháng 12 năm 1978, Trung Quốc đã quyết định đánh Việt Nam. Trong ngày 9-12-1978, Quyết định này đã được “tuyệt mật” chuyển tới tay tướng Hứa Thế Hữu (Tướng Hữu cùng với Dương Đắc Chí là hai tướng chỉ huy cuộc chiến tranh 17-2). Trong khi mãi tới ngày 25-12-1978, quân đội Việt Nam mới bắt đầu mở chiến dịch đánh sang Phnompênh.

Khi Khmer Đỏ chưa nắm được chính quyền, đang “ăn nhờ, ở đậu” gần Trung ương Cục (Việt Nam), Pol Pot, Yeng Sary đã “đi lại” với Bắc Kinh. Năm 1970, Lon Non lật đổ Sihanouk, Pol Pot đã rất cay cú khi Sihanouk được đưa về Hà Nội. Pol Pot nhận ra, họ không phải là lực lượng duy nhất mà Việt Nam ủng hộ ở đất nước nhỏ bé này. Cho dù sau đó “lá bài” Sihanouk cũng được “nuôi” ở Bắc Kinh như một ông hoàng, người Trung Quốc đã khéo léo nhen nhúm hiềm khích Việt Nam cho Pol Pot. Chính vì thế mà ngay trong năm 1975, Khmer Đỏ đã phản bội Việt Nam, bắn giết ở Phú Quốc, ở Thổ Chu và từ năm 1977 đánh sang An Giang, Tây Ninh, có khi vào sâu hơn 10 km. Tuy nhiên, cho dù có bị “mất mặt” khi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ do Trung Quốc hậu thuẫn bị Việt Nam đánh đổ ở Phnompênh. Liệu, Trung Quốc có phải là một “đàn anh” trung thành với lân bang đến mức hy sinh mình như vậy?

Người Hoa và vấn đề “nạn kiều” cũng đóng một vai trò nhất định. Thật khó lý giải vì sao cuộc “cải tạo tư sản công thương nghiệp”, đụng tới hàng trăm nghìn người Hoa, lại được Việt Nam tiến hành năm 1978, khi mà mối quan hệ với Trung Quốc đang hết sức căng, nếu như không đề cập đến câu chuyện sau đây, câu chuyện mà sách vở chưa bao giờ nói đến. Bí thư Thành ủy TP HCM vào thời điểm 1975, ông Võ Văn Kiệt, kể: “Sau ngày 30-4, ở khu vực Chợ Lớn có một chi bộ có vũ trang thuộc bộ phận hải ngoại của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Chi bộ này xuất hiện bí mật từ trước 30-4 và khi đó họ đòi được công khai hoạt động“. Để một lực lượng Trung Quốc có vũ trang ở Chợ Lớn thì cũng không khác chi “đặt mồi lửa dưới đống củi”, Việt Nam buộc phải “giải giáp” họ. Bắc Kinh rất khó chịu về vụ “giải giáp” này. Nhưng, cho dù có bao nhiêu người Hoa đã phải ra đi trong năm 1978 thì “nạn kiều” vẫn là một “lá bài” mà Trung Quốc cũng chủ động “chơi” chứ không hẳn là nguyên nhân khiến cho Đặng Tiểu Bình đưa quân sang Việt Nam xâm lược.

Tác giả của “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt” còn chỉ ra một vấn đề rất có thể cũng là nguyên nhân: Năm 1978, Đặng Tiểu Bình vừa khôi phục lại quyền lãnh đạo quân đội, “Ông có ý thức nhạy bén… thông qua cuộc chiến tranh, vừa thăm dò được sự trung thành (của quân đội), vừa làm cho các nhà lãnh đạo (Trung Quốc) khác nhận rõ những mặt phải cải cách quân đội“. Đại tá Hà Tám, chỉ huy trung đoàn 12 anh hùng đánh Trung Quốc tháng 2-1979, cho biết: “Mặc dù pháo theo cùng của Trung Quốc bắn khá chính xác, nhưng, bộ binh thì chủ yếu dùng ‘biển người’; chỉ huy của Trung Quốc lúc ấy ra trận mà vẫn có người che ô, quân thì chờ kèn kêu mới xông trận“. Sau ngày 17-2, Trung Quốc đã gấp rút cải cách quân đội, và họ đã “thử nghiệm” lại trên Biên giới Việt Nam vào ngày 28-4-1984 bằng một chiến dịch với phương thức chiến tranh hoàn toàn mới.

Đặng Tiểu Bính nói: “Người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán“. Cuộc chiến tranh được huy động khi mà Trung Quốc đang vô cùng lạc hậu sau các cuộc cách mạng “da thịt tàn nhau” không chỉ nhắm đến một mục tiêu. Bằng cách kể lể kiểu chương hồi, cuốn sách mà Trung Quốc cho công bố, “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, đã để lộ một ý đồ thâm sâu của Đặng, đó là vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa. Ngay sau khi kết thúc chiến tranh ở miền Nam, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã bày tỏ thái độ khá kiên định về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa, quần đảo mà từ lâu Trung Quốc đã rắp tâm thôn tính.

Tháng 6-1975, Bộ Ngoại Giao Việt Nam gửi công hàm cho Trung Quốc về vấn đề Hoàng Sa. Ngày 24-9-1975, khi gặp Đặng Tiểu Bình ở Bắc Kinh, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã “yêu cầu phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình đàm phán về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa“. Tháng 4-1977, trên đường đi Liên Xô ghé qua Bắc Kinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã gửi đến Trung Quốc thông điệp của Việt Nam về hai quần đảo ấy. Tuy nhiên, trước sau Trung Quốc đều một mực “yêu cầu Việt Nam trở lại lập trường trước năm 1974“. “Lập trường trước năm 1974“, theo cuốn sách “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt” là “Tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958“. Cuốn sách nói là Đặng Tiểu Bình đã rất “khó chịu” với Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Đặng nói: “Vấn đề này không cần thiết phải đàm phán… (đó) là lãnh thổ Trung Quốc“.

Có lẽ, năm 1979, Đặng Tiểu Bình nghĩ là có thể đè bẹp ý chí của người Việt Nam trong vấn đề đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa nên đã phát động chiến tranh. Và, các yếu tố như Liên Xô, Campuchia được Đặng vận dụng tối đa để cô lập Việt Nam trên trường quốc tế. Điều cay đắng là, lẽ ra Đặng đã không thể cô lập Việt Nam để gây đổ máu của dân ta như thế nếu như sau 1975, Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trong khối ASEAN ngay và đặc biệt, bình thường ngoại giao với Mỹ. Năm 1977, khi Mỹ chìa tay ra cho Việt Nam, theo Tổng thống Jimmy Carter, “vấn đề bồi thường chiến tranh đã gây khó khăn“. Rồi, trong khi Việt Nam đang loay hoay thì Đặng Tiểu Bình đã khai thác yếu tố này ngay, để thiết lập được quan hệ ngoại giao với Mỹ và đặt Việt Nam vào tình huống bị bao vây, cấm vận. Tất nhiên, “ý thức hệ” đóng một vài trò quan trọng trong quyết định “nhất biên đảo” với Liên Xô; năm ấy, báo Nhân Dân vẫn chỉ trích Đặng về chủ thuyết “mèo trắng, mèo đen” và ngày nay, chúng ta vẫn cần phải quan tâm tới bài học ấy.

Tôi công bố bài viết này không chỉ vì sắp đến ngày 17-2 mà còn vì, muốn lưu ý, “người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán”, không nên đặt cuộc chiến tranh 17-2 ra ngoài âm mưu Biển Đông. Bản Giốc, Tục Lãm… giờ đã xong; nhưng, Hoàng Sa, Trường Sa thì vẫn đó.

Huy Đức

(bài này chưa đăng báo giấy)

17 tháng 2 năm 1979. CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI VIỆT TRUNG

1979 Dân chúng CAO BẰNG tản cư

Cầu Tài Hồ Sìn : tên đèo và cây cầu trên Quốc lộ 3, gần thị xã Cao Bằng.
Tại đây đã xảy ra chiến sự ác liệt vào hạ tuần tháng 2-1979. Công binh Tàu đang sửa cầu

Quân Tàu tràn qua Cầu Tài hồ Sin tiến vào Cao Bằng

Quân Tàu Tấn công chiếm doanh trại Bộ Đội VN

Xe tăng tấn công

quân Tàu nấu cơm trên đường tiến quân

Công tác tư tưởng , ban cờ quyết thắng

Quân Tàu chuẩn bị ra quân

Hình ảnh thu từ xác Bộ Đội Việt Nam

Mộ quân Tàu chết năm 79

Mộ Lính Việt Nam

08
Tháng 1
09

Phát ngôn & Hành động dở nhất 2008

Phát ngôn & Hành động dở nhất 2008

Bài viết này được đăng trên báo điện tử Tuần Việt Nam (www.tuanvietnam.net) trong một thời gian ngắn trước khi bị gỡ bỏ, mặc dù nội dung của nó không có gì quá ghê gớm. Còn rất nhiều phát ngôn ấn tượng trong năm 2008 mà đáng ra phải được đưa vào danh sách đề cử, ví dụ:

- “Nếu là nhà đầu tư thì tôi sẽ mua vào” – lời của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng vào đầu năm nay về triển vọng thị trường Chứng khoán Việt Nam, lúc đó chứng khoán đang ở mức 600 điểm (nay còn 300).

- “Theo các tài liệu lịch sử đang được lưu giữ, Trấn Nam Quan hay còn gọi là Ải Nam Quan đều nằm bên phía Trung Quốc, đường biên giới nằm phía nam Trấn Nam Quan” – lời của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vũ Dũng, về hiệp định biên giới đường bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Phát ngôn bột phát nhất

Danh sách “đề cử” gồm có:

1. “Chỉ cần khi nào phía bạn đưa ra chứng cứ thì sẽ cho tiến hành xử lý…” của ông Nguyễn Thành Tài, Phó Chủ tịch thường trực UBND TPHCM về vụ các quan chức Nhật Bản khai đưa hối lộ ông Huỳnh Ngọc Sĩ trong dự án đại lộ Đông – Tây và môi trường nước TPHCM.

2. “Người dân chỉ nên mua rau, thực phẩm ở những cửa hàng rau, thực phẩm an toàn, không nên mua ở chợ xanh, chợ cóc” của Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Đào Văn Bình.

3. “Kinh nghiệm tốt nhất vẫn là huy động chính sức dân và huy động tại chỗ. Do đang đi kiểm tra dưới cơ sở nên tôi thấy nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm” – Bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị nói trong trận lụt lịch sử đầu tháng 11/2008 và sau đó đã xin lỗi người dân vì điều đó.

4. “Đừng hỏi tôi chi tiết quá!” ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND TP Hà Nội trả lời cho câu hỏi: “Thưa ông giai đoạn I (trị giá 100 triệu USD) của dự án thoát nước chúng ta đã triển khai được những hạng mục gì?”.

Hành động “quen thuộc” nhất

Đó là hành động từ chức của rất nhiều quan chức nước ngoài trong năm qua: Bộ trưởng nội vụ Shivraj Patil cùng cố vấn an ninh quốc gia MK Narayanan xin từ chức vì không ngăn được một loạt vụ tấn công bằng súng máy và lựu đạn vào khách sạn, ga xe lửa và bệnh viện ở thành phố Mumbai, trung tâm của Ấn Độ hôm 26/11.

Ông Toshizo Ido, Tỉnh trưởng tỉnh Hyogo (Nhật Bản) từ chức vì “nói hớ trong vụ động đất ở khu vực Kanto (miền đông Nhật). Cùng vì “nói hớ”, Bộ trưởng Giao thông Nhật Bản Nariaki Nakayama đã nộp đơn từ chức lên tân Thủ tướng Taro Aso chỉ 4 ngày sau lễ nhậm chức của Chính phủ mới.

Tổng thống Pakistan Pervez Musharraf tuyên bố từ chức hôm 18/8 nhằm “tránh làm tổn hại đến các lợi ích quốc gia”.

Thủ tướng Thái Lan Somchai Wongsawat phải từ chức sau khi Tòa án hiến pháp Thái Lan phán quyết giải thể đảng của ông vì gian lận trong cuộc bầu cử vừa qua. Năm 2008 cũng chứng kiến những sóng gió liên tiếp nổi lên trong chính trường Thái Lan với nhiều cuộc biểu tình, lật đổ và… từ chức.

Còn tại VN, hành động từ chức gây xôn xao đến từ ông Hoàng Đức Toản, thôn Lủng Pảng, xã Côn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Cạn. “Bản thân tôi xin thôi chức trưởng thôn, bởi vì tôi nghĩ một khi bị bất lực và cô lập thì còn lãnh đạo gì nữa, thà rằng nghỉ để người khác làm, cố làm mà vẫn không hoàn thành nhiệm vụ, hoặc rừng càng ngày càng bị phá thì khó lắm” – lá đơn xin từ chức viết.

Hành động ngớ ngẩn nhất

Đó là việc ông Trần Quý Trường, Cục phó Cục Quản lý khám chữ bệnh, Bộ Y tế, thay mặt Bộ đưa ra những thông tin trong bộ “tiêu chuẩn” quy định những người ngực lép, thấp bé, nhẹ cân không không được điều khiển xe máy. Sau khi dư luận phản ứng mạnh, quy định này đã được chỉnh sửa.

Phát ngôn “ngắn gọn” nhất

Không nên hỏi, rất nhạy cảm, tác động đến xã hội” – Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh trả lời như vậy trước câu hỏi “Tác động của tăng giá xăng lần này đến chỉ số giá tiêu dùng?”.

Trước đó, bên lề kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoa 12, với câu hỏi của phóng viên: “Theo Bộ trưởng, lần này Quốc hội có bàn về cắt giảm bội chi cho ngân sách không?” thì ông Vũ Văn Ninh bảo rằng “Tôi không nói được. Các bạn hỏi khó quá!

Hành động hớ hênh nhất

Đó là hành động của ông Nguyễn Anh Cường, Giám đốc Công ty TNHH Thủ đô II, thảo công văn “khiếu nại” gửi đến Bộ Thông tin Truyền thông và Cục báo chí để đòi xem xét và chỉ đạo dừng ngay nội dung mà ông gọi là “xuyên tạc sai sự thật” mà các báo đã đăng về “vụ chợ 19/12″.

Hành động gây xôn xao nhất

Anh phóng viên truyền hình Muntadar al-Zaidi ném liên tiếp hai chiếc giày về phía Tổng thống Mỹ George Bush trong một cuộc họp báo tại Iraq. Không ít người dân Iraq thấy thỏa thuê, suy tôn và ngược lại không ít đồng ngiệp… đánh giá đây là hành động bất lịch sự, vi phạm nguyên tắc nghề báo. Nhưng có một điều rõ ràng, nó đã làm ông Bush và mật vụ Mỹ có mặt tại đó phải bẽ mặt.

Với sự lan truyền mạnh mẽ của không gian mạng hiện nay, hình ảnh hai cú ném và cú né được truyền đi nhanh chóng và gây xôn xao dư luận, nhiều người coi đó như một clip giải trí đắt giá trong năm 2008.

Phát ngôn lỗi thời nhất

Hiện nay các DN đang trích từ lãi ra 1.000 đồng/lít để bù cho khoản lỗ cũ nên có DN phải sau một năm mới bù hết lỗ“, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh, phát biểu sau khi giá dầu trên thế giới đã thụt xuống dưới 70 USD/ thùng trong tuần qua và một “hiện tượng hi hữu” đã xảy ra trong 2 ngày cuối tuần: giá xăng đã giảm hai lần, mỗi lần “nhỏ giọt” 500 đồng/lit..

Cũng theo bộ trưởng Vũ Văn Ninh, “nếu nói (giá xăng dầu) tăng nhanh thì không đúng, nhưng tăng cao thì không phải“.

Nay giá dầu trên thế giới đã chỉ còn dưới 40 USD/ thùng và giá xăng trong nước đã giảm chậm dần đều theo, nhận định trên liệu có còn nguyên giá trị?

Hành động gây nghi hoặc nhiều nhất

Võ Thanh Bình, Bí thư tỉnh uỷ tình Cà Mau đem nộp 100 triệu đồng tiền cho là có người đem đến “chạy chức”. Chưa biết số tiền kia của ai, nhưng sau đó ông Bình nhận quyết định thôi giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau, thôi tham gia Ban chấp hành trung ương Đảng, chờ nghỉ chính sách.

Phát ngôn thẳng thừng nhất

Xin lỗi, tôi chỉ nói một câu thôi nhé. Đúng là mất dạy!” – Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, cha đẻ của ca khúc “Đoàn vệ quốc quân” đã thốt lên sau khi nghe toàn bộ bài xuyên tạc ca khúc này trong “Sách đỏ FPT”. Một số nhạc sĩ khác cũng thốt lên tương tự khi biết ca khúc của mình được “chuyển thể” trong cuốn sách đó.

Những phản ứng này diễn ra sau khi dư luận có phản ứng không tốt sau màn nhảy sexy của học viên FPT Arena bị lan truyền qua mạng. Sự việc này đã “được” Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch bình chọn là một trong những vấn đề văn hóa gây phản cảm nhất năm 2008.

Hành động “trái ngang” nhất

Công tác chống tiêu cực không thể lơ là một giây phút nào” – Đó là phát biểu hùng hồn của “quan tham” Trần Lương Vũ, quan chức cấp cao nhất của Trung Quốc bị xét xử kể từ hơn một thập kỷ nay vì tội nhận hối lộ và lợi dụng chức quyền để trục lợi. Người “hai mặt” này “trên bục kêu gọi chống tiêu cực, dưới bục tham gia tiêu cực”.

Phát ngôn và hành động bồng bột nhất

Ca sĩ Đăng Khôi nói trước báo chí mình là “Sứ giả thiện chí du lịch Đài Loan”. Sau đó anh đã phải đính chính lại và giải thích là mình dẫm phải “vết xe đổ” của ca sĩ Đan Trường đi trước khi cũng “tự phong” danh xưng này.

Nhạc sĩ trẻ Minh Vương xin rút giải thưởng Bài hát Việt trao cho ca khúc Mưa, vì lý do như tác giả viết trong thư gửi Hội đồng thẩm định: “Ca khúc này cháu đã sáng tác dựa trên beat của nước ngoài vào 4/2008, sau đó được sự ủng hộ của khán giả, cháu đã gửi ca khúc này đi dự thi mà không để ý đến vấn đề này…

Phát ngôn có phản hồi của độc giả nhiều nhất

Tôi nghĩ trình độ ĐH không phải là tiêu chí của Hoa hậu. Trình độ ĐH và trình độ nhận thức khác nhau, chúng không hẳn đi liền với nhau. Hiện, Hoa hậu đang học PTTH, làm sao có thể bắt cô ấy học ĐH được“.

Phát ngôn của ông Dương Xuân Nam, nguyên TBT báo Tiền Phong, Trưởng BTC cuộc thi Hoa hậu VN 2008, nói về việc Trần Thị Thùy Dung đăng quan Hoa hậu khi chưa tốt nghiệp THPT (được tranh luận với “có trình độ THPT”).

Ngay sau vụ hoa hậu chưa học hết 12 và xài bằng già này, hàng trăm phản hồi của bạn đọc đã tới tấp đổ về với đủ nỗi niềm “hỉ, nộ, ái, ố”…

***

Như vậy, chuyên mục “Phát ngôn & Hành động ấn tượng” của năm 2008 đã khép lại với những lời nói và việc làm hay, tốt và dở bên cạnh những điều dở hoặc chưa hoàn thiện.

Một năm mới – năm 2009 – lại đến với nhiều niềm tin hơn, nhiều kỳ vọng hơn cho sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước. “Phát ngôn & Hành động ấn tượng” của Tuần Việt Nam gửi đến quý độc giả từ khắp nơi trên thế giới lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất. Hy vọng rằng, năm 2009 sẽ đến với mỗi người với nhiều lời hay, ý đẹp hơn cũng như có những việc làm thiết thực hơn, để cuộc sống ngày càng thêm nhiều ý nghĩa.

Bùi Dũng (tổng hợp)

Nguồn: Tuần Vietnam.

(Sưu tầm internet)

Bài này đã bị gỡ xuống khỏi báo điện tử Tuần Việt Nam. Tuy nhiên vẫn có thể được tìm thấy trong bộ nhớ cache của Google tại đây.


http://72.14.235.132/search?q=cache:uEc3uFQEGzsJ:tuanvietnam.net/vn/vnn/1145682/index.aspx+Ph%C3%A1t+ng%C3%B4n+%26+H%C3%A0nh+%C4%91%E1%BB%99ng+d%E1%BB%9F+nh%E1%BA%A5t+2008&hl=vi&ct=clnk&cd=1&gl=vn&client=firefox-a

BÀI LIÊN QUAN

01/01Sao không soi gương mà tự thẹn với chính mình?

03/12CÁO PHÓ CỦA GIA TỘC HỌ TÔ

05/11Ông Phạm Quang Nghị! Tại sao ông lại nói thía?

04/01Cười cuối tuần một chút: Chuyện nhỏ… chuyện lớn

15/12Giọt mực giọt đời: Nói nhỏ

THEO DÒNG SỰ KIỆN

30 Năm Trước, Tự Sự Của Một Người Từng Là Lính

Thêm chi tiết về phân giới cắm mốc

Thư ngỏ gửi các bạn đọc trẻ Việt Nam!

Biển Đông và chiến lược diều hâu của Trung Quốc

Mặt trận im thin thít!

Chủ quyền VN ở vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây

Cướp Hoa, Điện Thoại Chùa và Coi Báo Cọp

Vì sao giảm chi tiêu mà chi ngân sách vẫn tăng cao?

Không lực cản nào thắng nổi sức dân!

Hiến pháp cần được sửa đổi để người dân có thể bầu trực tiếp

Những hoa tiêu yếu kém


06
Tháng 1
09

30 Năm Trước, Tự Sự Của Một Người Từng Là Lính

30 Năm Trước, Tự Sự Của Một Người Từng Là Lính

Ngày 17 tháng 2 năm 1979, khi vừa vào đến cổng trường, chúng tôi nhận được tin: Vào lúc mờ sáng, “Trung Quốc đã đem quân bắn giết dọc theo Biên giới 6 tỉnh phía Bắc nước ta”. Sáng ấy, nhiều đứa trong chúng tôi đi thẳng từ trường phổ thông đến ủy ban nhân dân xã. Chúng tôi đăng ký nhập ngũ mà không kịp nói một câu với chính cha mẹ của mình.

“Quân bành trước Bắc Kinh” đã kéo chúng tôi từ lớp học ra thẳng chiến trường. Nhưng, không hiểu sao nhà trường hôm nay, lại không nói gì về cuộc chiến tranh kéo dài thế giằng co hơn 10 năm ấy. Ba mươi năm trước, những “đàn trẻ nhỏ”, chạy “từ Biên giới về”. Ba mươi năm sau, những đứa trẻ ấy lớn lên, biết thêm: Tháng 4/1956 nhân khi quân Pháp vừa rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc, lúc này đã trở thành “xã hội chủ nghĩa anh em”, chiếm đảo lớn nhất thuộc Hoàng Sa. Ngày 19-1-1974, sau khi Trung Quốc ký Thông cáo chung Thượng Hải với Mỹ và sau Hiệp Định Paris 1973, Mỹ rút lui khỏi Việt Nam, Trung Quốc, vẫn đang là “xã hội chủ nghĩa anh em”, đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, giết 58 chiến sỹ Hải Quân Sài Gòn, chiếm đảo. Ngày 14-3- 1988, Trung Quốc lại tấn công một số đảo đá của Trường Sa giết hại 74 người lính Hải quân Việt Nam và, từ đó, chiếm luôn những hòn đảo ấy.

Rồi. Ngày 12-11-2008, Trung Quốc tuyên bố đầu tư 29 tỷ USD cho một dự án “khảo sát và khai thác Biển Đông”. Trong đó, bao gồm cả những biển đảo của Việt Nam mà Trung Quốc vẫn còn chiếm giữ. Bốn tháng trước, 7-2008, khi hãng dầu khí Mỹ, ExxonMobil, hợp tác với Việt Nam trong một dự án thăm dò ở Nam Côn Sơn, Trung Quốc đã gây áp lực với ExxonMobil để họ phải rút lui. Năm 2007, Trung Quốc đã gây áp lực buộc BP ngưng hoạt động trong dự án dầu khí có vốn đầu tư 2 tỷ USD với Việt Nam ở hai vùng Mộc Tinh, Hải Thạch. Năm 1994, Trung Quốc phản đối hợp đồng dầu khí giữa Việt Nam và Mobil ở vùng Thanh Long. Chỉ hai năm sau khi họ ký hợp đồng thăm dò dầu khí với công ty Crestone ở vùng Vũng Mây-Tư Chính. Tàu Trung Quốc “đi lại nghênh ngang” ngoài Biển Đông, trong khi, các dự án của Việt Nam thì phải cay đắng rút lui mà không làm gì được.

Thế hệ chúng tôi, lớn lên “dưới mái trường xã hội chủ nghĩa”, có nhiều sự kiện xảy ra ở Thủ đô, ở Biên giới và ngoài Biển mà chúng tôi không hề được biết. Chúng tôi vẫn hát về Mao Trạch Đông như “mặt trời lên” khi mà “Bác Mao” lần lượt đem quân chiếm Hoàng Sa, rồi Trường Sa. Chúng tôi hát, “núi liền núi, sông liền sông” khi mà nhiều ngọn núi, khúc sông đã không còn nữa. Cho đến ngày 17-2… Được cầm súng, được “vạch mặt, chỉ tên” quân xâm lược cũng là hạnh phúc. Cho dù, nhiều khi ngẫm lại, sự thật chỉ được thông tin vừa lúc, đủ để chúng tôi tất tả lên đường.

Không như chúng tôi, các bạn trẻ hôm nay không ngồi chờ nhà trường “mớm” cho gì thì biết nấy. Nhưng bi kịch của họ lớn hơn… Thật không dễ dàng gì khi biết một kẻ đang rình rập bên ta mà vẫn phải nghe họ xưng là “láng giềng tốt”; một kẻ đem tàu chiến sang giết người giữ đảo của ta vẫn xưng là “đồng chí tốt”; một kẻ dùng áp lực để đuổi đối tác tìm dầu của ta mà vẫn nhận là “bạn bè tốt”; một kẻ ngang nhiên hút dầu ngoài biển của ta mà vẫn phải gọi là “đối tác tốt”.

Khi tôi đang viết entry này thì đọc được trên blog Nông Dân Gió Lào, người Trung Quốc sẽ tổ chức một lễ hội hoa đăng ở Hà Nội, dự kiện bế mạc vào ngày 17-2 năm nay. Nông Dân Gió Lào cũng dẫn tin trên Vietnamnet nói rằng, năm 2004, người Trung Quốc cũng đã tổ chức một lễ hội hoa đăng ở Đà Nẵng, khai mạc đúng vào ngày 19-1. Năm ấy, họ kết 30 cụm hoa đăng, theo Nông Dân Gió Lào, ứng với 30 năm ngày Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, một huyện đảo thuộc về Đà Nẵng (19/1/1974- 19/1/2004). Có thể bởi “tình đồng chí” mà khi cấp phép, chính quyền địa phương đã không quan tâm lắm đến sự trùng hợp này. Nhưng, Nông Dân Gió Lào cho rằng các “chú Tàu” thì không làm gì “ngẫu nhiên”, kể cả việc, hồi cuối tháng 11, họ cho tàu mang tên Trịnh Hòa, người mà họ nói là đã phát hiện ra Hoàng Sa và Trường Sa, cập vào Đà Nẵng.

Năm 1988, Trung Quốc đánh chiếm mấy đảo đá ở Trường Sa. Việt Nam chuyển sang đường lối quan hệ “đa phương”. Thật may mắn là Việt Nam đã không rơi vào tình thế “đơn phương” với một gã khổng lồ vừa đánh trộm vừa xưng là “anh em, đồng chí”.

Nhà nước có những lý do để cư xử với lân bang chín chắn. Nhưng, sự “bồng bột” của dân cũng cần thiết để sự thật, đôi khi, có cơ hội phơi bày. Người dân không bao giờ muốn chiến tranh, vì nếu nó xảy ra, chỉ có họ mới là người ra trận. Tôi đã nói chuyện với nhiều người dân ở Biên giới hồi tháng 3-1979. Tôi có nhiều người bạn là lính ở sư đoàn đóng quân tại Lạng Sơn trong ngày 17 tháng 2. Cái mà chúng ta nói là “chiến thắng” cũng đã phải trả bằng đầu rơi máu chảy.

Tôi có hơn 3 năm ở Campuchia trong giai đoạn chiến tranh, biết câu chuyện Khmer Đỏ chống lại Việt Nam chỉ 2 tuần sau khi nhờ Việt Nam mà có trong tay quyền bính. Biết, sau lưng Pol Pot có bàn tay của ai. Nhưng, tôi cũng đã gặp nhiều người Việt-Gốc-Hoa, trong số hơn 675 nghìn người Việt-Gốc-Hoa phải ra đi trong những năm sau 75, 78. Nhiều người lúc ấy không biết tiếng Hoa, nhiều người đã từ lâu coi mình là dân Việt. Nhiều người khi rời Việt Nam đã không chọn Trung Quốc như là tổ quốc. Vận nước, phải chăng đã không tránh được thế đối đầu? Trung Quốc năm nào cũng nhắc lại cuộc chiến 17-2-1979, tại sao Việt Nam lại không bàn về nó một cách công khai và rút ra bài học cho mình.

Tôi có mặt ở Hồ Gươm vào cái đêm bóng đá Việt Nam thắng Thái Lan ở lượt đi (24-12). Có mặt trên đường phố Sài Gòn ngay sau khi bóng đá Việt Nam vô địch (28-12). Đi trong thác lũ người tràn ra đường hôm ấy, nghĩ, chỉ bóng đá thôi ư mới có được sức mạnh thế này. Ngay từ thế kỷ 19, khi mà lãnh thổ của một quốc gia vẫn còn có thể mở rộng bằng chinh phục, Định ước Berlin 1885 và Tuyên bố Lausanne 1888, đã nói: “Dùng vũ lực để chiếm giữ một vùng lãnh thổ đã có chủ là một hành động phi pháp”. Công ước của Liên hiệp quốc về luật biển (1982) cũng tái khẳng định tinh thần này. Chúng ta chưa có bom hạt nhân, chúng ta chưa có tàu to súng lớn. Đất nước ta rất nhỏ. Dân ta không nhiều. Sức mạnh của chúng ta chính là chủ quyền pháp lý.

Ba mươi năm đã trôi qua kể từ khi chúng tôi sục sôi tiến về Biên giới, đảo vẫn mất mà đất nước lặng im. Thầy giáo dạy sử ở trường lặng im. Báo chí văn chương lặng im… Tôi không rõ không khí ở trong các phòng họp căng thẳng ra sao. Chỉ biết, nếu ngồi đó, tôi sẽ lạnh lưng khi bên ngoài im lặng. Chỉ có sát cánh với nhân dân mới có thêm sức mạnh, đừng để cho từng chiếc đũa bị tách ra và bẻ gãy từ từ.

(Nguồn Osin’s blog)

BÀI LIÊN QUAN:

Thêm chi tiết về phân giới cắm mốc

Thư ngỏ gửi các bạn đọc trẻ Việt Nam!

Biển Đông và chiến lược diều hâu của Trung Quốc

Mặt trận im thin thít!

Chủ quyền VN ở vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây

11
Tháng 12
08

Thư ngỏ gửi các bạn đọc trẻ Việt Nam!

Thư ngỏ gửi các bạn đọc trẻ Việt Nam!

Tôi khẩn thiết cầu mong các bạn đọc trẻ hãy đọc bức thư ngỏ này và tất cả chúng ta, con dân nước Việt hãy đứng bên nhau trong giờ phút đất nước đang bị đe dọa nghiêm trọng, cùng suy nghĩ và đồng lòng góp sức, tìm ra cách tốt nhất, đối phó một cách hiệu quả nhất cho sự bình an của Tổ Quốc ta. Và ngay khi có thể, các bạn hãy giúp tôi, đưa bức thư này đến những người thân quen của các bạn, càng nhanh, càng đông, tôi càng biết ơn các bạn!

Nguyễn Khắc Phục

Hà Nội, ngày 08 tháng 12 năm 2008

Bạn đọc trẻ thân quý!

Tôi tên là Nguyễn Khắc Phục, hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, đã về hưu và tiếp tục sáng tác tại Hà Nội. Cách đây đúng một năm (ngày 08.12.2007), trước những hành vi sai trái, nguy hiểm của nhà cầm quyền Trung Quốc đe dọa chủ quyền, an ninh lãnh thổ nước ta, tôi đã phải viết một bức thư ngỏ gửi các nhà văn Trung Quốc. Một năm sau, những diễn biến nói trên mỗi lúc một thêm nghiêm trọng, nhà cầm quyền Bắc Kinh càng có nhiều hành động không thể chấp nhận được, đưa ra những đòi hỏi cực kì vô lý, đi ngược lại mọi chuẩn mực công pháp quốc tế, đạo lý khi tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển có diện tích khoảng 75% Biển Đông. Tham vọng bất chính, bất hợp pháp của họ không dừng lại ở việc xâm chiếm phi pháp Hoàng Sa, đe dọa Trường Sa mà còn tiếp tục những mưu toan ngang ngược, trắng trợn đòi chiếm luôn cả vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn của Việt Nam vốn nằm cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 1000 km, bất chấp chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với vùng biển này đã được luật quốc tế và các bên liên quan công nhận (xin tham khảo thêm tư liệu ở TUANVIETNAM ngày 8.12.2008- Chủ quyền VN ở vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây của Dương Danh Huy – Lê Minh Phiếu). Thật ra những diễn biến nguy hiểm mới này chỉ là những biểu hiện tiếp tục một cách lô-gic của chủ nghĩa bành trướng và tham vọng bá quyền thâm căn cố đế trong đầu óc của nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Vì thế, hôm nay tôi phải viết thư ngỏ này, khẩn thiết gửi các bạn đọc trẻ – đồng bào máu thịt của mình, giãi bầy với trách nhiệm công dân, những suy nghĩ nghiêm túc, canh cánh và tâm huyết nhất của mình, một người bình thường trong ngót trăm triệu con dân nước Việt đang sống trên Tổ Quốc hay ở nước ngoài, rằng: Nhân dân Việt Nam vốn chỉ có một nỗi khao khát thiết tha duy nhất, được sống bình yên, hạnh phúc, hữu nghị và làm bạn với tất cả các nước láng giềng và các quốc gia trên thế giới, nhưng những gì nhà cầm quyền Trung Quốc đã, đang và sẽ làm, đang đe dọa nghiêm trọng, hủy diệt nỗi khao khát thiết tha nói trên!

Có một sự thật hiển nhiên: Muốn hiểu rõ bản chất của tội ác, tham vọng bất chính của các thế lực đen tối, chúng ta không còn cách nào khác là truy ngược lên, tìm gốc rễ sâu xa của những tội ác và tham vọng nói trên!

Nỗi ưu tư này càng nóng bỏng, nhức nhối trong mỗi con tim Việt Nam, khi sắp tròn 30 năm ngày xẩy ra sự kiện quân đội Trung Quốc xâm lược Việt Nam (17. 02. 1979 – 17. 02. 2009)!

Đến đây, chúng ta lại phải đối mặt với một sự thực rất đau lòng và không thể chấp nhận được: Trong lịch sử hiện đại của đất nước, sự kiện Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979 là một trong những sự kiện đặc biệt và quan trọng bậc nhất, lại hầu như rất ít khi được nhắc tới dưới mọi hình thức, phương tiện thông tin, từ những nghiên cứu sử học, đến các tác phẩm văn chương – nghệ thuật phản ánh đề tài hiện thực này. Theo tôi biết, không phải không có những công trình, tác phẩm liên quan trực tiếp hay gián tiếp, với quy mô lớn, vừa hoặc nhỏ, đề cập tới sự kiện lịch sử này. Vậy vì sao những công trình, tác phẩm ấy không được công bố? Ai phải chịu trách nhiệm, họ muốn gì khi chủ trương như vậy? Đó không chỉ là biểu hiện ô nhục, hèn nhát mà còn làm yếu đi sức mạnh của chính nghĩa và khả năng tập hợp đại đoàn kết dân tộc trước nguy cơ ngoại xâm.

Ở đây, tôi chỉ điểm lại một vấn đề mấu chốt hệ trọng và dễ thấy nhất, liên quan đến cái cớ nhà cầm quyền Trung Quốc vin vào để phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979.

Ngay sau khi lên nắm quyền ở Căm-pu-chia, tập đoàn Pôn Pốt được Bắc Kinh dung dưỡng, cổ súy cả tinh thần, vật chất, cả hệ tư tưởng, bày mưu tính kế, cố vấn cao cấp hoặc trực tiếp huấn luyện, đã ngang nhiên xâm lấn và phá hoại cuộc sống yên lành của nhân dân ta dọc biên giới, đồng thời thực hiện một chế độ diệt chủng với chính đồng bào mình, tàn bạo, vô nhân đạo bậc nhất trong lịch sử nhân loại.

Việt Nam buộc phải tiến hành các biện pháp bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và cuộc sống, sinh mạng của đất nước, nhân dân mình, giáng trả bọn xâm lược theo đúng công pháp và tập quán quốc tế về “quyền tự vệ chính đáng”. Và lịch sử đã diễn ra theo đúng lô-gic của nó. Ngày mồng 7 tháng 1 năm 1979, bộ đội tình nguyện Việt Nam theo yêu cầu của Đảng Nhân Dân Cách Mạng Căm-pu-chia, tiến vào đất bạn, góp sức cùng các lực lượng yêu nước, yêu công lý Căm-pu-chia, chặn đứng nạn diệt chủng, giải phóng đất nước Chùa Tháp thoát khỏi họa diệt vong… Và chỉ 37 ngày sau, ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam! Vì sao họ “nhanh nhẹn” như vậy khi gây ra tội ác này? Họ nhân danh cái gì để xâm lược Việt Nam?

Như mọi lần, Bắc Kinh lại biến trắng thành đen , vu cáo “Việt Nam tiểu bá xâm lược Căm-pu-chia” và Trung Quốc phải “dạy cho Việt Nam một bài học”. Thế là họ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược tổng lực, không từ bất cứ tội ác nào chống lại dân thường Việt Nam, phá hủy tan hoang thị xã, thành phố, làng mạc, nhà máy, xí nghiệp, cầu cống trên địa phận các tỉnh phía Bắc Việt Nam giáp biên giới Trung Quốc, theo một kế hoạch được vạch trước, với mưu đồ nham hiểm là đánh quỵ Việt Nam không chỉ ở khả năng phòng thủ, tiềm lực kinh tế – quân sự mà còn nhằm hăm dọa, làm tan rã ý chí yêu nước, cắt đứt truyền thống quật cường chống ngoại xâm chảy trong máu các thế hệ người Việt sau này…

Bây giờ, gần 30 năm đã qua, mọi cái đã trở nên minh bạch. Sự thật đã sáng như ban ngày. Và mọi sự dối trá và đạo đức giả cũng đã được phơi bày trước thế giới. Việc quân tình nguyện Việt Nam giúp Căm-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng, dân tộc Khơ -me và nền văn hóa rực rỡ với Ăng-co Vát, Ăngco Thom đã hồi sinh và đang tiến bước trên con đường hòa bình-phát triển…, đã được công luận quốc tế thừa nhận. Chính nhân dân cùng Quốc Vương và các nhà lãnh đạo Căm-pu-chia cũng đã hơn một lần ghi nhận, bày tỏ lòng biết ơn Việt Nam đã giúp Căm-pu-chia hồi sinh bằng hành động quang minh chính đại, kịp thời, hiệu quả và đã tốn không ít xương máu, tiền của vì đại nghĩa nói trên. Sự ghi nhận này không chỉ ở lời nói, dư luận mà cả trong các văn bản chính thức của Quốc Hội – Nhà Nước Căm-pu-chia. Và bọn thủ ác khủng khiếp nhất mọi thời đại, bọn mù quáng đi theo đường lối diệt chủng, bọn đã từng được Bắc Kinh dung dưỡng, khuyến khích, đã phải ra đứng trước vành móng ngựa của Tòa án Quốc Tế xét xử tội ác chống lại loài người!

Vậy là cái cớ nhà cầm quyền Bắc Kinh vin vào để xâm lược Việt Nam năm 1979 đã hoàn toàn đổ nhào, khẳng định mạnh mẽ một sự thật: Cuộc chiến tranh Trung Quốc tiến hành năm 1979 chống Việt Nam là phi nghĩa, phi pháp, phi đạo lý, cần phải bị lên án đanh thép. Và những kẻ đòi “dạy cho Việt Nam một bài học”, đã lộ nguyên hình ngụy quân tử, đầy dã tâm, tàn ác và nham hiểm.

Nhưng thử hỏi, 30 năm qua, tại sao những kẻ gây nên tội ác xâm lược Việt Nam năm 1979 chưa bị vạch mặt công khai và đưa ra xét xử trước Tòa án công lý Quốc Tế? Tại sao chưa có bất cứ cuộc điều tra toàn diện, khách quan và công bằng nào của các tổ chức, cơ sở nghiên cứu khoa học và cá nhân, về tội ác của Trung Quốc chống Việt Nam năm 1979, được tiến hành? Hoặc đã có mà chưa được công bố bởi những lý do nào đó? Ấy là chưa kể một loạt tội ác khác nhà cầm quyền Bắc Kinh đã gây nên cho nhân dân Việt Nam, chưa bao giờ được thống kê, phân tích đầy đủ để công bố cho nhân dân ta và thế giới biết rõ:

- Ngày 19-1-1974, hải quân Trung Quốc đã dùng nhiều chiến hạm và phi cơ cưỡng chiếm toàn bộ Hoàng Sa của ta. Trong trận chiến không cân sức này, 58 binh sĩ quân đội Sài Gòn đã ngã xuống.

- Tháng 4 năm 1988, Trung Quốc đã thông qua một nghị quyết thành lập tỉnh Hải Nam, trong đó bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Trước đó, ngày 14 tháng 3 năm 1988, hải quân Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm các đảo ở Trường Sa. Họ đã bắn chìm ba tàu vận tải của hải quân Việt Nam. 74 chiến sĩ của chúng ta đã hi sinh khi bảo vệ mảnh đất thiêng liêng của Tổ Quốc mình.

Tại sao cái ác, cái xấu, cái đạo đức giả ở tầm vóc “giới cầm quyền một nhà nước” không bị phanh phui, lên án? Tại sao? Và những ai phải trả lời câu hỏi này?

Những diễn biến lịch sử và thực tế cuộc sống đã cho chúng ta những bằng chứng hiển nhiên để không mơ hồ: Về bản chất và tham vọng bất chính, những kẻ đòi “dậy Việt Nam” năm 1979 và những vị hôm nay trịnh trọng rêu rao những lời đường mật về “16 chữ vàng” và “4 tốt” là một đồng một cốt. Khác chăng chỉ ở cách thức, giọng điệu, diễn xuất, càng ngày thói đạo đức giả và thủ đoạn càng tinh vi, nham hiểm và tàn độc hơn.

30 năm trước, họ nói toạc ra mồm “dạy cho Việt Nam một bài học” và xua quân đánh qua biên giới. Tàn ác, nguy hiểm lắm, nhưng vẫn ít nguy hiểm và tàn ác hơn bây giờ, khi họ thi thố đủ các thủ đoạn chính trị – ngoại giao – quân sự đen tối, được che đậy, ngụy trang khôn khéo, ru ngủ thiên hạ, chia rẽ, làm suy yếu, vô hiệu hóa mọi khả năng đề phòng, đoàn kết của các quốc gia, dân tộc trong khu vực (vốn cùng là nạn nhân của chủ nghĩa bành trướng, bá quyền của họ), chống lại những mưu đồ nguy hiểm bất hợp pháp, ngang ngược coi thường mọi chuẩn mực công pháp quốc tế; bằng các chiến lược, chiến thuật cực kì tàn độc, thâm thúy mà có nhà nghiên cứu đã gọi là “chiến lược diều hâu“!

“Trung Quốc mạnh hơn hẳn Việt Nam và các nước ASEAN khác cùng tranh chấp như Phillipine hay Malaysia. Đây là một sự thực rõ như ban ngày. Sự chênh lệch về sức mạnh kinh tế và quân sự, kèm theo các phản ứng rất chừng mực và đơn lẻ, từ các đối thủ ASEAN đã khiến Trung Quốc tùy ý vận dụng chiến lược diều hâu trên Biển Đông.

Từ khoảng 20 năm đổ lại đây, họ đã sử dụng một công thức tổng hợp bao gồm:(1) tấn công quân sự quy mô nhỏ (Việt Nam, 1988, Philippine, 1996, 1997), đơn phương thăm dò và khai thác tài nguyên trên vùng tranh chấp, (3) đe dọa bằng vũ lực (đối với ngư dân) hoặc sức ép kinh tế (với các tập đoàn dầu khí quốc tế) nhằm ngăn chặn các đối thủ tiến hành khai thác tài nguyên trong vùng tranh chấp, (4) chia rẽ các đối thủ bằng kinh tế và ngoại giao, và (5) tuyên truyền về chủ quyền và thái độ cứng rắn của họ đối với vấn đề Biển Đông trên toàn thế giới…” (Dự Trần, cố vấn của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông – Theo TUANVIETNAM ngày 06.12.2008)

Đúng, họ đã mưu toan “ru ngủ”, “gây mê”, “dọa dẫm”, sử dụng tất cả những mánh khóe tinh vi, biến hóa khôn lường trong việc kết hợp giữa diễu võ giương oai (thị uy, phô trương sức mạnh quân sự, khoa học-kỹ thuật) với các chiến dịch ngoại giao đạo đức giả, gây sức ép, tâm lý chiến (không loại trừ cả “văn hóa chiến” và “hữu nghị chiến” thông qua phim ảnh, tác phẩm văn học – nghệ thuật, các cuộc gặp gỡ “hữu nghị”, thi đấu thể thao, buôn bán, mậu dịch, viện trợ… ), tăng cường các hoạt động tình báo, gián điệp, phản gián và cấy vào nội bộ các nước mà họ muốn thôn tính, một loạt “nội gián”, ra sức “li gián”, “mua chuộc”, “phân hóa” khối đại đoàn kết Việt Nam bằng mọi thủ đoạn; nếu không tỉnh táo, dũng cảm và thông minh, chúng ta lại tự ru ngủ, sợ sệt, hoang mang và tự chia rẽ thêm nữa, thì việc mất nước chỉ còn là chuyện thời gian!

Vâng, hiện giờ chuyện khẩn cấp và sống còn nhất, liên quan đến lãnh thổ, lãnh hải thiêng liêng, chủ quyền của Tổ Quốc, số phận, danh dự toàn dân Việt Nam và tương lai của các bạn, hoàn toàn tùy thuộc vào hành động và nhận thức của tất cả chúng ta.

Đúng, xét về phương diện thực lực từ kinh tế, trang bị vũ khí, đến khả năng tác chiến cơ động, hiện đại (đặc biệt là hải quân và không quân), Trung Quốc mạnh hơn hẳn Việt Nam và các nước trong khu vực. Nhưng cái quyết định trong chiến tranh không phải lúc nào cũng thuộc về kẻ mạnh vũ khí, tiền bạc, thủ đoạn.

Một. Nếu các nước trong khu vực nhận thức tỉnh táo và đầy đủ về nguy cơ bành trướng và “chiến lược diều hâu”, biết tập hợp lại, đồng tâm hiệp lực, tạm thời gác bỏ những bất đồng, tranh chấp lẫn nhau (mà giữa các nước này với nhau, việc đàm phán đi tới các giải pháp thỏa đáng là có cơ sở và khả thi), chống lại mọi âm mưu và hành động bá quyền, cảnh giác trước mọi âm mưu chia rẽ, li gián…, dễ gì Trung Quốc đã có thể tự tung tự tác, muốn làm gì thì làm?

Hai. Trên bàn cờ quốc tế hiện đại, các cường quốc khác đã từng có mối quan hệ lịch sử với khu vực này, hiện nay cũng đang coi các nước như Việt Nam – Philippin- Malayxia…, là các nhân tố được tính đến trong chiến lược phát triển kinh tế – chính trị – ngoại giao – an ninh của họ, không thể bó tay ngồi im, để mặc Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng và lấn lướt phi pháp và vô hạn độ, trên bộ, trên biển, trên không và trên vũ trụ. Trước hết vì quyền lợi của chính nước họ, sau nữa có thể họ làm như vậy vì được thúc đẩy bởi những đòi hỏi của lương tri, tầm nhìn xa và cũng có thể do họ nhận thức được lời cảnh báo: Nếu không ra tay hành động kịp thời và đủ mức cần thiết, sẽ là quá muộn một khi chủ nghĩa bá quyền, bành trướng từ “bóng ma” hiện lên thành một thế lực vật chất nguy hiểm và tàn bạo! Công luận quốc tế và lương tri nhân loại cũng luôn đứng về phía các dân tộc bị áp bức, các đất nước bị xâm hại bởi các thế lực đen tối, phi nghĩa. Vì vậy, phải công khai đưa ra quốc tế những vấn đề khúc mắc trong quan hệ Việt – Trung trước nay vẫn được “những ai đó” coi là “tế nhị”, là “nhạy cảm” và ra sức bưng bít. Trong một số trường hợp tranh chấp cụ thể về lãnh thổ, lãnh hải, cần phải được đưa ra phân xử công khai trước các tổ chức quốc tế hữu quan, có đủ năng lực, thẩm quyền và uy tín. Chúng ta đừng quên một bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu: Trong thời kì chống xâm lược 1945 đến 1975, đặc biệt là từ 1954 về sau, cuộc chiến đấu chính nghĩa của chúng ta được tiếp thêm nhiều nguồn cổ vũ, ủng hộ từ dư luận tiến bộ trên thế giới, từ chính phong trào phản chiến trong lòng đất nước mà nhà cầm quyền nước ấy tiến hành xâm lược Việt Nam. Chúng ta không thể không nhắc tới sức mạnh mà những tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh chống Việt Nam của Bec-trăng Rut-xel, những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh diễn ra trên khắp các lục địa, từ Âu, Á, Phi, Bắc Mỹ đến Mỹ La-tinh…, đã tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta giữa những năm tháng thử thách khốc liệt, cam go nhất. Tại sao hôm nay chúng ta lại không tăng cường thêm sức mạnh, khả năng và hiệu quả tranh đấu cho chính nghĩa của chúng ta bằng cách tranh thủ công luận tiến bộ và ngay cả sự thức tỉnh trong lòng đất nước đang bị chi phối bới chủ nghĩa bành trướng…, cũng không phải không có tác dụng chặn bớt các mưu đồ đen tối và nguy hiểm với chính an nguy của nhân dân nước ấy.

Ba. Riêng với nước ta, từ hàng nghìn năm trước, không chỉ một lần, ông cha ta đã từng phải đối mặt với những cuộc xâm lược của các đế chế Trung Hoa đầy tham vọng, hùng mạnh, nham hiểm và tàn ác. Dĩ nhiên tình thế ngày ấy khác bây giờ cả từ hình thái, quy mô, thủ đoạn xâm lược, bối cảnh quốc tế, trình độ kĩ thuật, tác chiến, phương tiện chiến tranh và tương quan lực lượng. Nhưng xét cho cùng vẫn là chuyện nước nhỏ, dân nghèo, quân ít phải đánh với giặc to, ác và hiểm. Vậy ông cha ta đã làm cách nào để có Bạch Đằng Giang, Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa? Thậm chí đời Lý, anh hùng Lý Thường Kiệt còn đại phá Ung – Khâm, đập tan từ trong trứng mưu đồ xâm lược của nhà Tống năm 1075. Nhà Trần đã tổ chức thành công 3 lần kháng chiến chống Nguyên – Mông thế kỉ 13. Anh hùng dân tộc Lê Lợi, nhà chiến lược, danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi cùng những nghĩa sĩ dự hội thề Lũng Nhai năm 1418, đã tiến hành cuộc kháng chiến 10 năm chống quân xâm lược nhà Minh, giải phóng đất nước khỏi họa diệt vong do bọn xâm lược tàn bạo mưu toan thực hiện bằng tất cả các thủ đoạn và tội ác của chúng, từ hủy diệt văn hóa, hủy diệt cơ sở vật chất và hủy diệt khả năng tồn tại của dân tộc ta như một dân tộc có văn hóa và khát vọng hạnh phúc. Rồi Đại đế Quang Trung đã diệt 28 vạn quân Mãn Thanh chỉ trong vòng mấy ngày mùa xuân năm Kỉ Dậu – 1789, ngay giữa thành Thăng Long. Vân vân và vân vân… Tựu trung, nguyên nhân thắng lợi của những võ công trên là do:

A- Ta chính nghĩa, ta chống xâm lược.

B- Ta đoàn kết một lòng, không phân biệt Nam-Bắc, Xuôi-Ngược, Vua-Quan-Dân, Trai-Gái, Già-Trẻ, Tôn Giáo – Tín Ngưỡng – Chính kiến, tất cả đồng lòng đánh giặc khi đất nước lâm nguy. (Điển hình là Hội nghị Diên Hồng thời Trần đánh giặc Nguyên-Mông). Ta kiên quyết giữ vững và phát huy cao nhất, sức mạnh của khối đại đoàn kết ấy, chống lại mọi mưu toan chia rẽ, mua chuộc và li gián của giặc ngoại xâm.

C- Ta có truyền thống đấu tranh anh dũng và tự tôn, biết mình (sở đoản – sở trường), biết người, biết tìm cách đánh thích hợp, lấy “đoản binh thắng trường trận”, “lấy yếu thắng mạnh”, lấy ” chí nhân thay cường bạo”, biết tiến biết thoái… Mỗi lần phải đương đầu với giặc xâm lược phương Bắc, bao giờ cha ông ta cũng tìm mọi cách liên kết với các lân bang cùng cảnh ngộ, cảnh giác ngăn chặn mọi mưu đồ li gián của kẻ thù chính, tỉnh táo, có tình có lý, phân tích cho các lân bang hiểu rõ những nguy cơ do âm mưu ” bẻ từng chiếc đũa trong bó đũa” gây nên, làm suy yếu khả năng của các liên minh chống lại bá quyền, bành trướng. Ta cũng biết nội bộ của chính thế lực xâm lược không phải lúc nào cũng ổn cả, chính nhà cầm quyền ấy cũng phải đối mặt với những vấn đề nan giải của chính đất nước ấy.

D- Đặc biệt, sức mạnh của Việt Nam được tìm thấy cội rễ từ chí khí, tinh thần quật cường, trung hậu và đức xả thân…, của giới trẻ trong mọi hoàn cảnh hiểm nghèo nhất. (Điển hình là chuyện cậu bé Trần Quốc Toản bóp nát quả cam ở Hội nghị Bình Than – thời nhà Trần).

E- Ta không mơ hồ trước mọi sự lừa phỉnh, đường mật của kẻ xâm lược. Ta biết rõ tim đen và dã tâm của chúng. Ta luôn nhũn nhặn, thậm chí chịu lép khi nói năng, chữ nghĩa viết lách các văn thư của triều đình và phải cống nạp cho cái gọi là “Thiên Triều” (kể cả khi ta đánh thắng, vẫn tạo điều kiện giao trả tù binh đàng hoàng cho chính bọn xâm lược mình, hoặc cấp đất xây mộ phần cho những tên xâm lược chết trận tại Việt Nam), nhưng trong thâm tâm, ta không bao giờ quên họ là ai, muốn gì và ta phải làm gì để chống lại mọi mưu toan nham hiểm, tàn bạo đã ăn vào máu của những kẻ cầm quyền phương Bắc. Muốn làm gì thì làm, muốn mềm dẻo thế nào thì mềm dẻo, nguyên tắc cốt tử là phải bảo toàn bằng mọi giá, đất đai, sông biển thiêng liêng của tổ tiên trao lại, danh dự và phẩm giá của một đất nước có truyền thống văn hiến hàng nghìn năm. Đối sách “trong rắn ngoài mềm” phải được vận dụng và nhận thức trên nguyên tắc cốt tử, tối thượng như trên.

G- Ta không lạ gì sách của họ từ nghìn xưa đến giờ. Nôm na thế này: Muốn lấy phải cho (đời Tống, họ phải cắt 800 dặm đất họ cho Liêu Hạ, nhưng lại mưu toan cướp đất của Đại Việt). Trước Nam sau Bắc (phía Bắc của họ toàn thứ dữ, khó gặm, họ bèn tính chuyện lấn xuống phía Nam trước với hi vọng dễ ăn cướp hơn). Mềm với người xa, rắn với kẻ gần (mua chuộc, giả vờ ngọt nhạt, hữu hảo với những nơi xa, gây cảm tình, tạo đà để mưu lợi trong tương lai khi có cơ hội bành trướng, sắm vai anh hùng hảo hán, cứu khốn phò nguy, ra vẻ hào hiệp và nhân nghĩa, nhưng trắng trợn, trịch thượng, cậy mạnh hiếp yếu với những nước nhỏ hơn cạnh mình).

Tôi nghĩ sao nói vậy, giãi bày tâm can cùng các bạn đọc trẻ, chắc có chỗ thiếu sót, chủ quan hoặc thiển cận, thành thực không ngại bị chê cười hay khó chịu. Tôi làm việc này chỉ nhằm một mục đích: Tất cả chúng ta hãy cùng nhau suy nghĩ, nhìn sau trước, thấy phải làm gì tốt nhất, kịp thời và thiết thực nhất cho đại vận mệnh của đất nước – quê hương này (đương nhiên, có hạnh phúc và tương lai của mỗi chúng ta). Khi viết bức thư này, tôi cũng chờ những điều chẳng muốn vẫn sẽ đến với mình. Kể cả vậy, tôi không hối tiếc khi bày gan ruột của mình trên giấy. Hơn nữa, nếu tìm được cách thức nào hành động hướng tới mục đích trên, tốt hơn, hiệu quả hơn, tôi sẽ làm ngay, không nề hà, tính toán.

Dân Việt Nam xưa nay có cái hay, có cái dở như mọi dân tộc bình thường khác trên thế giới. Nhưng dân Việt Nam cũng đủ tỉnh táo để phân định rạch ròi giữa nhân dân Trung Quốc, các giá trị chân chính và đáng trân trọng của văn hóa Trung Hoa với thiểu số ôm ấp “chủ nghĩa bá quyền, tham vọng bành trướng”. Người Việt Nam chỉ muốn sống yên ổn, no ấm, hòa thuận với láng giềng, không muốn gây thù chuốc oán, càng không ham tranh giành quyền lợi bất chính. Nhưng khi bị xâm lược, danh dự bị xúc phạm, toàn dân Việt Nam nhất định mang hết sức lực, trí tuệ, máu xương, hiến dâng cho Tổ Quốc với tinh thần Đại đế Quang Trung đã tuyên cáo tại Thăng Long, mùa xuân năm Kỉ Dậu 1789:

“Đánh cho biết nước Nam anh hùng, có chủ!”

Tôi khẩn thiết mong các bạn đọc trẻ hãy đọc bức thư ngỏ này và tất cả chúng ta, con dân nước Việt hãy đứng bên nhau trong giờ phút đất nước đang bị đe dọa nghiêm trọng, cùng suy nghĩ và đồng lòng góp sức tìm ra cách tốt nhất, đối phó một cách hiệu quả nhất cho sự bình an của Tổ Quốc ta. Và ngay khi có thể, các bạn hãy giúp tôi, đưa bức thư này đến những người thân quen của các bạn, càng nhanh, càng đông, tôi càng biết ơn các bạn.

Qua mấy lời máu thịt này, tôi xin gửi gắm trọn vẹn lòng tin yêu vào quê hương, đất nước và nghĩa đồng bào.

Thân quý gửi lời chào các bạn đọc trẻ Việt Nam.

Thân mến.

Viết xong lúc 2 giờ 15 ngày 08 tháng 12 năm 2008

Nguyễn Khắc Phục – canhcualieutrai@yahoo.com.vn – 0904481335…

=========

Nguyễn Khắc Phục

THƯ NGỎ GỬI CÁC NHÀ VĂN TRUNG QUỐC

Hà Nội, ngày 8 tháng 12 năm 2007

Tôi là một công dân bình thường của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và làm nghề viết văn, gửi bức thư ngỏ này cho Quý Vị, những công dân của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và xét trên phương diện nào đó, chúng ta là đồng nghiệp của nhau. Quý Vị yêu nước Trung Quốc cũng như tôi yêu nước Việt Nam, điều này thật hiển nhiên và không có gì phải bàn cãi. Chắc Quý Vị cũng chia sẻ với tôi nhận thức rất đơn giản nhưng có tính nguyên tắc rằng: Lòng yêu nước của bất kỳ công dân quốc gia nào cũng đáng được trân trọng khi chúng ta coi đất nước mình là một thành viên trong Đại Gia Đình Nhân Loại.

Và cùng là người cầm bút, hẳn Quý Vị cũng như tôi, đều hướng tới các giá trị nhân văn cao cả, đều mong muốn dùng tác phẩm của mình góp phần vào việc xây dựng một thế giới tốt đẹp, công bằng, văn minh và nhân dân tất cả các quốc gia đều được sống trong hòa bình, hạnh phúc, được tôn trọng và bình đẳng… Tôi cũng xin bày tỏ chân thành sự kính trọng của tôi đối với đất nước và nhân dân Trung Hoa, nơi đã có một nền văn hóa rực rỡ lâu đời, nơi sản sinh ra những nhà tư tưởng, văn hóa nhân văn vĩ đại. Mà Khổng Phu Tử là một trong những vị đại diện kiệt xuất, đáng kính trọng nhất của nền văn hóa ấy với tinh thần nhân đạo sâu sắc, lý tưởng cao cả về một “thế giới đại đồng” của Người cho đến nay vẫn còn nguyên sức mạnh và cảm hứng thúc giục nhân loại phấn đấu và vươn tới.

Hẳn Qúy Vị cũng như bất cứ nhà văn nào trên thế giới (trong đó có tôi) đều ghê sợ, căm ghét và sẵn sàng dùng ngòi bút của mình vạch mặt thói đạo đức giả, thủ đoạn đánh tráo sự thật và lịch sử bằng những lời lẽ hoa mỹ; đặc biệt là thói cậy mạnh hiếp yếu, trịch thượng và khinh miệt người khác, những kẻ tự cho mình cái quyền đứng trên đầu trên cổ thiên hạ, bất chấp đạo lý, công luận và công pháp quốc tế, bất chấp những hậu quả thảm khốc khôn lường mà sự lộng hành của họ có thể gây cho các dân tộc khác, thậm chí cho chính đồng bào của họ…

Vững tin vào những điều vừa trình bày, tôi viết bức thư ngỏ này gửi tới Quý Vị và hi vọng tìm được sự đồng cảm nào đó…

Thưa Quý Vị, là người cầm bút, ít nhiều chúng ta cũng phải tìm hiểu lịch sử của đất nước mình, tất nhiên cũng sẽ thấy ngay một sự thật: Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, hầu hết lịch sử các quốc gia, dân tộc đều liên quan đến lịch sử của các quốc gia, dân tộc khác, theo các cách khác nhau và những kết quả tương ứng cũng khác nhau. Mà trong đó, mối quan hệ giữa đất nước của tôi và đất nước của Quý Vị đã trải qua hàng nghìn năm, đã trải qua đủ các cung bậc, tình huống, cảm xúc…, trong các hoàn cảnh lịch sử cụ thể, là một thí dụ khá điển hình. Và sau hết là một kết cục tất yếu của lịch sử: Tháng 8 năm 1945, nước tôi giành được độc lập và nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời. Tương tự, tháng 10 năm 1949, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời. Và 2 năm sau, nước tôi và nước Quý Vị chính thức đặt quan hệ ngoại giao với nhau.

Kể từ đó, mối quan hệ Việt-Trung bước vào lịch sử nửa cuối thế kỉ 20 với những diễn biến mạnh mẽ và cũng đầy kịch tính. Tôi cũng như hàng triệu người Việt Nam bình thường không bao giờ quên những gì mà đất nước và nhân dân Trung Quốc đã làm, đã ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập-tự do và thống nhất đất nước.

Cũng chính vì thế, làm sao chúng tôi không đau lòng, ngỡ ngàng khi phải đối mặt với sự thật: Ngày 19-1-1974, hải quân Trung Quốc đã dùng nhiều chiến hạm và phi cơ cưỡng chiếm toàn bộ Hoàng Sa. Mà bằng chứng lịch sử đã khẳng định Hoàng Sa là của nước tôi. Trong trận chiến không cân sức này, 58 binh sĩ quân đội Sài Gòn đã ngã xuống.

Rồi ngày 17 tháng 2 năm 1979, quân đội Trung Quốc tràn qua biên giới, tàn phá các thị xã, làng mạc, nhà máy, xí nghiệp, gây nên bao thảm cảnh cho nhân dân chúng tôi trên toàn tuyến biên giới phía Bắc.

Chưa hết, tháng 4 năm 1988, Trung Quốc đã thông qua một nghị quyết thành lập tỉnh Hải Nam, trong đó bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Trước đó, ngày 14 tháng 3 năm 1988, hải quân Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm các đảo ở Trường Sa. Họ đã bắn chìm ba tàu vận tải của hải quân Việt Nam. 74 chiến sĩ của chúng tôi đã hi sinh khi bảo vệ mảnh đất thiêng liêng của Tổ Quốc mình.

Điểm qua một vài sự kiện bi kịch như trên, hẳn Quý Vị và tôi có thể dễ hiểu hơn niềm hân hoan của nhân dân hai nước khi diễn ra việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam-Trung Quốc năm 1994. Cho đến khi lãnh đạo hai nước cùng nhau đưa ra 16 chữ vàng và 4 tốt, nhân dân Việt Nam và Trung Quốc càng tin vào tương lai tươi đẹp của tình hữu nghị.

Trích Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc sau chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào từ ngày 31/10 đến 2/11 năm 2005: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai là phương châm chỉ đạo phát triển quan hệ hai Đảng, hai nước trong thời kỳ mới. Mãi mãi là láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt là mục tiêu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước…”

Bởi nếu thực hiện nghiêm túc, đúng thực chất của “16 chữ vàng” và “4 tốt”, người ta sẽ thấy ở đấy sự hội tụ cả 5 đức lớn mà hàng nghìn năm trước Khổng Phu Tử đã nêu lên làm chuẩn mực hành động của đấng quân tử: Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín! Nói nôm na, làm đúng theo phương châm này, nhân dân hai nước sẽ có cuộc sống thanh bình, hữu hảo (Nhân), cư xử với nhau một cách có văn hóa (Lễ), trân trọng, nâng niu những tình cảm sâu nặng gắn bó số phận hai đất nước (Nghĩa), đó cũng là biểu hiện của sự thức thời (Trí), biết rõ trong thế giới hiện đại, người ta có thể làm gì và cái gì là không thể, cả nhận thức sâu sắc, cập nhật hóa khái niệm Trung-Thứ của Đức Khổng Tử (Ta không muốn cái gì thì đừng làm cái ấy cho người khác), và cuối cùng, đó là sự thành tín, nhất quán giữa nói và làm (Tín)…

Tiếc thay, sự thật lại không diễn ra như vậy, mà cứ mỗi lần ở đâu đó người ta cao giọng nói về “16 chữ vàng” và “4 tốt” thì y như rằng, ngay sau đó, Trung Quốc lại có những hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam một cách trịch thượng và đe dọa nguy hiểm an ninh, chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.

Mà mới đây nhất, ngày 3 tháng 12 năm 2007, Việt Nam lên tiếng phản đối Quốc vụ viện Trung Quốc vừa phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa (thuộc tỉnh Hải Nam), trực tiếp quản lý ba quần đảo trên biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam…

Thưa Quý Vị nhà văn Trung Quốc, như trên tôi đã trình bầy, làm đúng và thành thực thì “16 chữ vàng” và “4 tốt” sẽ hội tụ cả 5 đức Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín, còn làm ngược lại thì đương nhiên là hủy hoại cả 5 đức lớn ấy.

Chúng tôi biết rõ, nước chúng tôi bé, nhân dân chúng tôi còn nghèo, tàu chiến, máy bay của chúng tôi vừa ít hơn, vừa lạc hậu hơn hải quân, không quân của các cường quốc, nhưng điều ấy không ngăn cản chúng tôi đứng lên bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của đất nước mình. Hẳn Quý Vị chưa quên rằng trong lịch sử, không phải chỉ một lần, Việt Nam đã từng phải đương đầu với những kẻ xâm lược hùng mạnh hơn mình gấp bội. Và kết quả của những cuộc kháng chiến bảo vệ đất nước ấy của nhân dân Việt Nam hẳn Quý Vị cũng không phải không biết. Nhân dân Việt Nam chỉ mong muốn yên ổn làm ăn, hữu hảo với tất cả các nước, đặc biệt là với các nước láng giềng, trong đó có đất nước Trung Hoa. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng sẵn sàng hi sinh tất cả, muôn người như một đoàn kết để chống lại bất cứ hành động ngang trái nào làm nhục chúng tôi và xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc gia của mình.

Thưa Quý Vị, vạn bất đắc dĩ chuyện xấu nhất xảy ra thì ai sẽ là người gánh chịu? Trước hết là phụ nữ, trẻ em, những người dân hiền lành, lương thiện của cả các bên. Là các nhà văn, hẳn Quý Vị sẽ hình dung ra bao tấn thảm kịch và cái giá xương máu phải trả cho bất kì tham vọng bất chính nào.

Nhân dân chúng tôi không muốn thế. Và nhân dân các nước khác cũng không muốn thế. Nhưng khi bị đẩy đến lựa chọn sinh tử, bất kì dân tộc nào, quốc gia nào biết tự trọng cũng phải chiến đấu bảo vệ danh dự và quyền lợi chính đáng của mình. Và nhất định nhân loại tiến bộ, lương tri loài người và đạo lý, công pháp quốc tế sẽ đứng bên dân tộc ấy, đất nước ấy.

Vài lời tâm huyết, thành thực giãi bầy với Quý Vị, tôi chỉ ao ước mong được Quý Vị lắng nghe, cùng ngẫm nghĩ và sẽ đưa ra hành động thích hợp, vì mục tiêu công chính và nhân đạo, trên cương vị của mình – những nhà văn chính trực và công tâm, yêu hòa bình, công lý, bênh vực lẽ phải.

Trân trọng cảm ơn Quý Vị!

Kính thư

Nguyễn Khắc Phục

Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

Địa chỉ: 2A ngõ Dã Tượng – Hà Nội. Di động 0904481335

(Nguồn bài viết ở đây)

09
Tháng 12
08

Biển Đông và chiến lược diều hâu của Trung Quốc

Biển Đông và chiến lược diều hâu của Trung Quốc.

Dự Trần
Cập nhật : 08/12/2008 13:27

Diều hâu chỉ có thể nhượng bộ diều hâu chứ không thể nhượng bộ bồ câu. Với các nước ASEAN có tranh chấp trên Biển Đông, trừ phi họ cùng đứng lại với nhau, nếu không sẽ không phải là đối thủ đáng để Trung Quốc nhượng bộ.

Biển Đông và chiến lược diều hâu của Trung Quốc
Từng bước thiết lập chủ quyền trên thực tế dù không có cơ sở pháp lý

Tham vọng của Trung Quốc trên biển Đông từ lâu đã là một lá bài ngửa. Từ năm 1947, họ đã xuất bản bản đồ địa giới và hải giới Trung Quốc trên Biển Đông với 11 “đường viền gạch nối). Từ 1953 trở lại đây thì 2 đường viền gạch nối trên Vịnh Bắc Bộ đã bị xóa đi, để lại bản đồ chính thức của Trung Quốc với 9 đường gạch nối (hình chữ U hay hình lưỡi bò).

Mục đích của Quỹ là phổ biến ý thức và nâng cao kiến thức và khuyến khích, hỗ trợ nghiên cứu về tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa, mặt biển và thềm lục địa, chuẩn bị các chứng cứ lịch sử và pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp sau này. Bằng con đường truyền thông và ngoại giao, vận động sự quan tâm và ủng hộ của dư luận quốc tế cho một giải pháp công bằng và hoà bình cho các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông

Theo Zou Keyuan thuộc ĐHQG Singapore thì các đường viền này không nhất thiết phản ánh quan điểm ban đầu của Trung Quốc về lãnh hải của nước này. Tuy nhiên, với việc Trung Quốc phản ứng quyết liệt trước các động thái khai thác dầu khí của Việt Nam ở vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn thì có vẻ như tới giờ họ đã nghiễm nhiên coi toàn bộ diện tích mặt biển gói bằng 9 đường viền gạch đứt là lãnh hải của họ.

Trung Quốc mạnh hơn hẳn Việt Nam và các nước ASEAN khác cùng tranh chấp như Phillipine hay Malaysia. Đây là một sự thực rõ như ban ngày. Sự chênh lệch về sức mạnh kinh tế và quân sự, kèm theo các phản ứng rất chừng mực và đơn lẻ, từ các đối thủ ASEAN đã khiến Trung Quốc tùy ý vận dụng chiến lược diều hâu trên Biển Đông.

Từ khoảng 20 năm đổ lại đây, họ đã sử dụng một công thức tổng hợp bao gồm (1) tấn công quân sự quy mô nhỏ (Việt Nam, 1988, Philippine, 1996, 1997), (2) đơn phương thăm dò và khai thác tài nguyên trên vùng tranh chấp, (3) đe dọa bằng vũ lực (đối với ngư dân) hoặc sức ép kinh tế (với các tập đoàn dầu khí quốc tế) nhằm ngăn chặn các đối thủ tiến hành khai thác tài nguyên trong vùng tranh chấp, (4) chia rẽ các đối thủ bằng kinh tế và ngoại giao, và (5) tuyên truyền về chủ quyền và thái độ cứng rắn của họ đối với vấn đề Biển Đông trên toàn thế giới.

Công thức này có mục tiêu hướng vào việc thiết lập chủ quyền trên thực tế (de facto) trên vùng biển này. Đứng về phía Trung Quốc thì chiến lược này là tối ưu vì một mặt nó không biến Trung Quốc thành một gã đồ tể hiếu chiến, nhưng lại giúp họ từng bước lấy được Biển Đông trong khi tuyên bố chủ quyền của họ không hề có cơ sở pháp lý (de jure). Đáng tiếc cho ASEAN là chiến lược này đang đạt được các thành quả ngoài sức mong đợi cho Trung Quốc.

Chiến lược diều hâu trên Biển Đông Trung Hoa

Cần nhớ rằng chiến lược diều hâu không chỉ được Trung Quốc sử dụng trên Biển Đông. Họ cũng đã từng sử dụng công thức này trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông Trung Quốc (East China Sea) với Nhật Bản. Tuy nhiên, kết quả của nó lại không giống như thành tựu mà nó đưa lại trong cuộc tranh chấp trên Biển Đông.

Trong cuộc tranh chấp với Nhật, Trung Quốc cũng đơn phương tiến hành thăm dò/khai thác trên vùng biển tranh chấp bất chấp sự phản đối quyết liệt của Nhật. Họ cũng thường xuyên đưa tàu chiến và tàu ngầm tới vùng biển này để dằn mặt hải quân Nhật Bản. Căng thẳng diễn ra đỉnh điểm vào cuối 2003 và đầu 2004, tới mức chiến tranh tưởng như đã cận kề.

Từ tháng 8, 2003, chính phủ Trung Quốc đã ký xong các thỏa thuận khai thác với các công ty dầu khí Trung Quốc và nước ngoài như Royal Dutch/Shell và Unocal với trị giá lên tới nhiều tỉ Mỹ kim. Nhật lên tiếng phản đối vì cho rằng hoạt động khai thác này lấy cớ rằng rằng nó sẽ hút cạn nguồn dầu khí nằm sâu trong lòng biển thuộc về hải phận của Nhật. Trung Quốc bỏ ngoài tai phản ứng này của đối phương.

biendong

Trước động thái của Trung Quốc, Nhật đã quyết định trả đũa. Họ đã đưa tàu thăm dò tới vùng biển tranh chấp từ tháng 7, 2004 để chuẩn bị đơn phương thăm dò và khai thác. Đương nhiên Trung Quốc đã quyết liệt phản đối và coi hoạt động này là vi phạm chủ quyền. Tuy nhiên, các phản ứn chỉ dừng lại ở mức ngoại giao và kinh tế.

Khi cả hai bên đã bộc lộ thái độ sẵn sàng ăn miếng trả miếng, thì lối thoát duy nhất chỉ có thể là hợp tác khai thác – trừ khi họ sẵn sàng cho chiến tranh. Sau nhiều vòng đàm phán, tới tháng 6, 2008, Nhật và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận khai thác chung. Các khu vực khai thác chung được thỏa thuận đều nằm trên vùng giáp ranh giữa hải giới của hai nước, nhưng theo quan điểm của Nhật chứ không phải theo quan điểm của Trung Quốc (bản đồ 1).

Rõ ràng là trong thỏa thuận này, đường ranh giới do Trung Quốc vẽ không có chút giá trị nào. Nhật Bản có thể phải nhượng bộ ít nhiều đứng từ lập trường của họ (thí dụ về quy tắc ăn chia trong hợp tác khai thác) nhưng lập trường của họ về ranh giới trên biển Đông Trung Quốc đã được giữ vững.

Chiến lược diều hâu ở Biển Đông

Trong thỏa thuận hợp tác với Nhật, hai bên đã cùng viện dẫn Công ước Quốc tế về Luật biển. Lập trường của họ khác nhau ở chỗ giải thích luật này như thế nào. Trong khi Nhật bản cho rằng phải sử dụng đường trung tuyến làm ranh giới thì Trung Quốc cho rằng phải sử dụng giới hạn thềm lục địa của nước này làm ranh giới. Cả hai cách giải thích này đều đã có tiền lệ, và vì thế tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc không phải không có cơ sở.

Trái lại, tuyên bố của họ về chủ quyền trên Biển Đông, với bản đồ chủ quyền gồm 9 điểm gạch nối lại hoàn toàn tùy tiện và không có cơ sở pháp lý. Hình lưỡi bò này xuất hiện trước cả Công ước Geneva về thềm lục địa (1958) và Công ước Quốc tế về luật biển (1982). Từ khi 2 công ước này ra đời, Trung Quốc vẫn không sửa lại bản đồ xác định chủ quyền của họ.

Thiếu cơ sở pháp lý như vậy nhưng nước này đã rất thành công trong chiến lược tiến chiếm Biển Đông. Họ đã thành công trong mục tiêu chia rẽ các nước ASEAN có cùng tranh chấp. Họ cũng thành công trong việc dằn mặt ngư dân các nước láng giềng cũng như các tập đoàn dầu khí quốc tế muốn làm ăn với Việt Nam. Trung Quốc đã tổ chức thăm dò ở các vùng biển sát thềm lục địa (và nằm trong vùng đặc quyền) của Việt Nam.

Vài nét về tác giả và bài viết

Tác giả bài viết là Tiến sĩ kinh tế học Dự Trần, chuyên nghiên cứu về tương tác chiến lược trong kinh doanh và chính trị.

Ông tốt nghiệp từ Đại học tổng hợp Texas-Austin và hiện đang làm chuyên gia tư vấn kinh tế tại ERS Group Inc – một tập đoàn chuyên tư vấn cho Chính phủ Mỹ và các đại công ty trong nhóm Fortune 500 trong các vấn đề liên quan tới cạnh tranh, lao động, tài chính, đầu tư và năng lượng.

Ông cũng là cố vấn cho Quỹ nghiên cứu Biển Đông. Quỹ này được thành lập năm 2007.

Bài này đã được công bố trên mạng Viet Nam Net ngày 6.12.2008 rồi bị bóc đi ngày hôm sau. Diễn Đàn cảm ơn tác giả Dự Trần đã cho phép chúng tôi công bố bài viết này.

Gần đây nhất, sau nhiều năm tổ chức thăm dò, vào ngày 24 tháng 11 vừa qua, Trung Quốc đã công bố dự án khai thác dầu khí ở vùng nước sâu trên Biển Đông với trị giá lên tới 29 tỉ Mỹ kim. Tuyên bố này nhanh chóng trở thành tin trang nhất trên khắp thế giới[4]. Phần lớn các hãng tin quốc tế, khi đưa tin về dự án này đã không đả động gì tới thực tế là vùng biển này đang bị tranh chấp, và thực tế là Trung Quốc không hề có chủ quyền về mặt pháp lý ở đây.

Lý do thành công của diều hâu

Có ba lý do quan trọng để chiến lược diều hâu của Trung Quốc thành công ở Biển Đông: Một là các nước ASEAN như Việt Nam và Phillipine đã rất yếu trong việc đưa vấn đề tranh chấp này tới công luận quốc tế trong khi cỗ máy tuyên truyền khổng lồ của Trung Quốc đã làm tốt việc kết nối Biển Nam Trung Quốc với chủ quyền của Trung Quốc. Vì thế, về mặt công luận quốc tế, Việt Nam và các nước ASEAN cùng tranh chấp ở Biển Đông không được ủng hộ – mặc dù lập trường của họ chính nghĩa hơn về mặt pháp lý.

Thứ hai là các nước này đều phản ứng rất yếu ớt trước sự lấn át của Trung Quốc. Điều này có cơ sở thực tế là nếu đứng riêng biệt từng nước thì họ đều ở vào thế yếu xét cả về tiềm lực kinh tế và quân sự. Do ở thế yếu, họ không thể đưa ra những đe dọa khả tín nào ngay cả khi họ muốn.

Thứ ba là mặc dù ở vào tình thế lép vế nếu đứng riêng lẻ, các nước ASEAN lại không hợp tác với nhau trong cuộc tranh chấp với Trung Quốc. Thí dụ như Phillipine đã dễ dàng bị mua đứt để đồng ý ký thỏa thuận hợp tác song phương với Trung Quốc trong khi bỏ mặc Việt Nam sang một bên. Điều này phản ánh ba thực tế đáng buồn: (1) sức ảnh hưởng của Trung Quốc ăn quá sâu vào ASEAN, (2) thiếu sự tin tưởng lẫn nhau giữa các nước ASEAN về vấn đề Biển Đông, (3) các chính phủ ASEAN trong từng thời điểm cụ thể đã tỏ ra thiếu viễn kiến.

Bài học về cuộc tranh chấp của Trung Quốc với Nhật và thỏa ước hợp tác khai thác giữa hai nước này cho thấy Trung Quốc không phải không chịu nhượng bộ. Diều hâu chỉ có thể nhượng bộ diều hâu chứ không thể nhượng bộ bồ câu. Với các nước ASEAN có tranh chấp trên Biển Đông, trừ phi họ cùng đứng lại với nhau, sẽ không phải là đối thủ đáng để Trung Quốc nhượng bộ.

Quỹ nghiên cứu Biển Đông, trong nỗ lực đem lại sự tin tưởng lẫn nhau và khả năng hợp tác giữa các nước ASEAN trên vấn đề Biển Đông, đã đề xướng các nước này gác qua một bên các tranh chấp về đảo/bãi đá trên ở Trường Sa để tập trung vào việc phân định một cách công bằng chủ quyền trên vùng biển này theo Công ước Quốc tế về luật biển.

Có thể nói không ngoa rằng đây là một trong những cửa thoát hẹp, nếu không muốn nói là cửa thoát duy nhất, cho các nước nhỏ yếu trong ASEAN trong cuộc đối đầu với chiến lược diều hâu của Trung Quốc trên Biển Đông.

Dự Trần

Number2′s blog

(Nguồn bài viết ở đây)

07
Tháng 12
08

Mặt trận im thin thít!

Mặt trận im thin thít!


“Trên bản đồ thế giới, hình thể đất nước ta như hình ảnh người nông dân đội nón trên đầu, đang oằn mình dưới sức nặng của khối Trung Hoa lục địa… “

Phát biểu của GS Tương Lai tại Hội nghị Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

(GS Tương Lai, một nhà trí thức tên tuổi, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học VN)

Cũng như mọi năm, tại Hội nghị Ủy ban trung ương MTTQVN lần này, tôi xin được phát biểu ý kiến, và lần này tôi xin nêu ý kiến về hai vấn đề.

Vấn đề thứ nhất: diễn đàn của Mặt trận là một diễn đàn rộng rãi nhất, cởi mở nhất của nước ta hiện nay. Tại đây, làm sao qui tụ được trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, thiết tha với vận mệnh dân tộc, không phân biệt quá khứ, tôn giáo tín ngưỡng, ý thức hệ, là đòi hỏi của đất nước trong giai đoạn lịch sử mới. Những ý kiến đó có thể trái tai với những cá nhân nào đó, cho dù đang ở cương vị nào, nhưng miễn là ý kiến ấy xuất phát từ một động cơ trong sáng vì nước, vì dân thì rất cần khuyến khích phát biểu. Có như vậy thì Mặt trận mới thực hiện chức năng cao cả của nó là một tổ chức chính trị rộng lớn nhất, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước, chứ không chỉ là một tổ chức hoạt động từ thiện, xóa đói giảm nghèo, mặc dầu hoạt động này trong thời gian qua đã có đóng góp rất lớn và thiết thực, cần được tiếp tục phát huy.

Văn kiện Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam đã ghi rõ: “Ở đâu có dân chủ, ở đó có đoàn kết, đồng thuận và phát triển” ( tr.344). Tạo điều kiện, tạo môi trường để phát huy dân chủ thực sự phải là một chức năng chủ yếu của Mặt trận, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà tiến trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế đi vào chiều sâu, đòi hỏi phải quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc, trước hết là sức mạnh trí tuệ của người Việt nam, tạo nên được một sự đồng thuận mới, là một nhu cầu của chính sự phát triển và hội nhập ấy. Muốn quy tụ được hiền tài để cùng nhau gánh vác sự nghiệp của đất nước thì phải thật lòng đoàn kết. Có thật lòng đoàn kết mới có dân chủ thực sự. Chất lượng của khối đại đoàn kết dân tộc được nâng cao đến đâu thì việc thực hành dân chủ tiến triển được đến đó. Sức nam châm có lực hút hiền tài là thái độ chân thành thật lòng đoàn kết được thể hiện rõ ràng gắn liền với độ rộng mở của dân chủ thực sự trong việc tạo ra môi trường thuận lợi để cho những tài năng thật sự có thể phát huy. Đúng là “phải thật sự công tâm, khách quan và đặc biệt là phải thực sự dân chủ; vì không dân chủ, hay chỉ dân chủ hình thức thì không chọn được người tài” như sự khẳng định của người đứng đầu Chính phủ trong cuộc đối thoại trực tuyến đầu năm ngoái.

Khi vị thế của Việt Nam đang được nâng cao, thì năng lực và kinh nghiệm để đảm trách những hoạt động quốc tế, trên thương trường cũng như trên chính trường, là những đòi hỏi bức xúc. Để đáp ứng đòi hỏi đó thì việc thật lòng đoàn kết và thực sự dân chủ là điều kiện tiên quyết để mời gọi những hiền tài, những chuyên gia giỏi trong và ngoài nước, tự nguyện tham gia cùng gánh vác công việc khó khăn đó. Người làm công tác Mặt trận phải thấu triệt vai trò lớn lao quy tụ hiền tài của tổ chức chính trị lớn nhất trong hệ thống chính trị của cả nước. Để làm được điều đó, người làm công tác Mặt trận phải có chính tâm và có hiểu biết.

Về chính tâm, xin dẫn lời người xưa. Sách Luận ngữ, thiên Nhan Uyên có chép chuyện Quý Khang tử hỏi Khổng Tử về chính trị. Khổng Tử đáp: “Chính trị là chính đính. Ông cai trị dân một cách chính đính thì ai dám không chính đính“. Trả lời Ai Công về cách cai trị để dân nghe theo, Khổng Tử chỉ nói một điều: “Đề cử người ngay thẳng lên trên người cong queo thì dân phục tùng, đề cử người cong queo lên trên người ngay thẳng thì dân bất phục“. Mà để làm được điều đó thì ngoài sự chính tâm, cần phải có hiếu biết.

Câu nói nổi tiếng của Khổng Tử về sự hiểu biết và cách học để có sự hiểu biết đó là một đúc kết có giá trị vĩnh cữu. Giá trị vĩnh cửu ấy càng tăng thêm trong điều kiện của thời đại kinh tế tri thức và nền văn minh trí tuệ của thế kỷ XXI: “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã“. Biết điều gì thì nhận là biết, không biết thì nhận không biết, như vậy chính là biết.

Trong nhận thức của tôi, qua mấy nhiệm kỳ tham gia vào UBTƯMTTQ từ năm 1983 đến nay, tôi nghiệm ra rằng, làm công tác Mặt trận vừa rất dễ, vừa rất khó. Dễ thì như loại tôi, mỗi năm cố gắng suy nghĩ để có được một bài phát biểu và rồi xuân thu nhị kỳ có đôi lần họp Hội đồng tư vấn. Hoặc như một số cán bộ chuyên trách làm nhiệm vụ như các cán bộ, viên chức của bất cứ cơ quan Nhà nước nào. Nhưng khó, cực khó là làm sao để cho công tác Mặt trận thực sự là công tác vận động tri thức, nhân sĩ và các tầng lớp nhân dân kết thành khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết thật lòng để cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước. Người cán bộ Mặt trận phải có sức thu hút và thuyết phục mọi người, trước hết là những người tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc. Và đấy cũng là kỳ vọng của chúng tôi đối với Mặt trận.

Vấn đề thứ hai: Mặt trận phải là nơi khơi động và phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định đó là một truyền thống quý báu của nhân dân ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Cụ Hồ chỉ rõ: “Tinh thần yêu nước, cũng như các thứ của quý, có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày…”

“Chúng ta” đây là ai? Là Đảng, là Mặt trận. Đặc biệt là Mặt trận. Chính vì thế, tôi rất băn khoăn thắc mắc và hôm nay, trên diễn đàn rộng lớn và hợp pháp này, muốn nói to lên thắc mắc băn khoăn đó để mong được giải đáp.

Ở thành phố Hồ Chí Minh, chỉ theo dõi được qua báo chí và mạng internet, tôi hết sức lạ là tại sao Mặt trận Tổ quốc Việt nam chúng ta không có bất cứ một tiếng nói, một động thái nào trong vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa.” Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng”, như lời cụ Hồ vừa dẫn ra ở trên, đáng lý Mặt trận Tổ quốc, kế tục truyền thống của Hội nghị Diên Hồng đời Trần, truyền thống của Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng,…, phải làm sống lại tinh thần bất khuất, quật cường khắc trên cánh tay hai chữ “sát thát”, làm cho tinh thần yêu nước kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn. Đằng này Mặt trận tuyệt đối im lặng. Thật là lạ. Một chuyện xảy ra tận Cuba bên kia bán cầu, Mặt trận đã có ngay lời tuyên bố đanh thép. Thế mà, Hoàng Sa, Trường Sa máu thịt của Tổ quốc bị người ta mưu toan lấn chiếm, biến thành quận huyện của của họ, thì Mặt trận lại im thin thít. Vì sao? Mặt trận Tổ quốc có còn kế thừa truyền thống của Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng nữa không?

Trong một bài báo viết nhân dịp này, tôi dẫn ra chỉ dụ của vua Lê Thánh Tông nhắn nhủ “bọn thái bảo Kiến Dương bá Lê Cảnh Huy”: “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại có thể vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì phải tội tru di“, chép rõ ràng trong Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục, Kỷ Nhà Lê, bị tòa soạn cắt mất. Thậm chí cắt cả câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tôi dẫn ra ở trên. Tôi hỏi, Tòa soạn trả lời là có sự chỉ đạo buộc họ phải làm như vậy mặc dầu họ không muốn.

Ai mà chỉ đạo lạ vậy. Họ có còn là con cháu của Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung. Hồ Chí Minh nữa không? Sao lại ngăn chặn tinh thần yêu nước của nhân dân, của thanh niên, sinh viên? Liệu Mặt trận có tham gia vào sự chỉ đạo này không? Người của tòa báo nọ giải thích với tôi, đây là sự tế nhị ngoại giao. Có thể có chuyện đó. Hoạt động ngoại giao đòi hỏi sự tế nhị, chuyện đó tôi không dám bàn. Nhưng để cho nhà ngoại giao tế nhị, thì nhân dân lại phải biểu tỏ ý chí của mình để làm hậu thuẫn cho nhà ngoại giao.

Từng tấc đất của Tổ quốc thẫm đẫm máu Việt nam không thể nào để bị cướp mất, trong đó có những tấc đất Hoàng Sa, Trường Sa. Một bà bán rau ngoài chợ hỏi một cách hồn nhiên khiến người đang cầm mớ rau ngỡ ngàng đến sững sờ: “Làm cách nào để biểu tỏ lòng yêu nước đây hở ông, con tôi nó hỏi tôi thế, liệu yêu nước có bị nhắc nhở không”. Bác lái taxi hỏi một câu bâng quơ mà khiến người ngồi trên xe hiểu rằng ông ta hỏi mình, cổ cứ tắc nghẹn, lúng túng không nói được ra lời, cho dù là một lời tạ lỗi “thế là mình đành để mất hở ông, làm sao có chuyện đó được, phải dấn mạnh lên thì chúng nó mới chịu lùi chứ”. Một ông già dừng xe cạnh tấm biển chỉ tên đường Lê Duẩn, con đường chạy thẳng vào dinh Thống Nhất, nói nhỏ nhẹ với những người đứng cạnh, “thế mới biết ông cha mình giỏi thật, bao nhiêu năm kiên cường giữ nước trong cái thế cái lực kém xa bây giờ”. Ông già am hiểu lịch sử ấy nhắc đến việc ông vừa đọc được trên một tờ báo tuần trước câu chuyện một người nước ngoài miêu tả rất thú vị về nước Việt Nam mình: trên bản đồ thế giới hình thể đất nước trông giống như một người nông dân đội nón ở trên đầu, oằn mình dưới sức nặng của cả khối lục địa Trung Hoa từ trên nén xuống khiến cái lưng của Việt nam phải uốn cong để đủ sức chịu đựng lâu dài, và cũng nhằm dồn lực để bật dậy khi cần thiết. Đó là dáng uốn cong của cánh cung để tạo ra sức bật. Và trước khi đạp xe đi tiếp, ông buông một câu: ý dân là ý trời!

Để có Hiệp định Genève 1954, phải có 09 năm kháng chiến và chiến thắng Điện Biên Phủ 7.5.1954. Để có Hiệp định Paris 1973, lại phải có “Điện Biên Phủ trên không” từ ngày 18 đến ngày 29.12.1972. Trước đó 5 năm, cũng vào tháng 12 năm 1967, sau khi nghe báo cáo của Tư lệnh Phòng không-Không quân, Bác nói: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà nội, rồi có thua mới chịu thua…Nó chỉ chịu thua sau khi thua trên vùng trời Hà nội. Vì vậy nhiệm vụ của các chú rất nặng nề”. Và rồi hiện thực lịch sử đã minh chứng cho lời “tiên tri” Bác Hồ. Trong lời “tiên tri” đó, ẩn chứa một nhận định mang tính qui luật: “Chỉ có thể đàm phán khi có thực lực được hậu thuẫn bởi ý chí và sức mạnh được khởi động từ nhân dân”. Và điều này đâu phải là sự khám phá của thế kỷ XX.

Lần mở lịch sử, thấy có sự trùng hợp rất thú vị về “Hội thề Đông Quan” cũng diễn ra vào tháng 12, ngày 10.12.1427, cách nay đúng 580 năm. Hội thề Đông Quan bên bờ sông Nhị đó đã mở đường cho Vương Thông rút quân. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép lời Lê Lợi: “Không thích giết người là bản tâm của bậc nhân đức. Vả lại, người ta đã hàng mà mình giết thì là điềm xấu không gì lớn bằng…chi bằng tha mạng sống cho ức vạn, để dập tắt mối chiến tranh cho đời sau, sử xanh ghi chép, tiếng thơm muôn đời, há chẳng lớn lao sao”. Những lời tâm huyết đó chỉ có thể trên cái nền của những chiến công chói lọi mà Nguyễn Trãi đã viết trong “Cáo bình Ngô”: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, Lấy chí nhân thay cường bạo. Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay…Voi uống cạn sông, gươm mài vẹt núi. Đánh một trận sạch không kình ngạc, Đánh hai trận tan tác chim muông…Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường, Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước”.

“Là bản tâm của bậc nhân đức”, đồng thời cũng là những ứng xử phù hợp với thực tế lịch sử, xuất phát từ vị thế địa-chính trị của đất nước mà cách diễn tả của người bạn nước ngoài về hình dáng của đất nước này trên bản đồ thế giới nêu trên đã giải thích điều ấy. Trong vị thế địa-chính trị ấy, bản lĩnh để tồn tại và phát triển đòi hỏi phải biết học bài học của ông cha, cùng với cái đó, phải biết khai thác những nhân tố mới, rất mới mà thời ông cha ta chưa có.

Lịch sử tồn tại và phát triển của một Việt Nam đất không rộng, người không đông, song với ý chí quật cường, dân tộc này vẫn kiên cường tồn tại. Mà vào buổi ấy, Việt Nam đơn thương, độc mã. Còn ngày nay, Việt Nam là một bộ phận của thế giới, là thành viên của khối ASEAN năng động và ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống quốc tế, là thành viên của WTO, là ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ, Việt Nam không hề đơn độc. Chúng ta hiểu mình cần làm gì và phải làm như thế nào để thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng bảo vệ độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, góp phần tích cực gìn giữ hòa bình ở khu vực và thế giới. Trong bối cảnh đó, thực lực của ta không đơn thuần chỉ là sức mạnh kinh tế, quân sự, mà là cái thế chiến lược ta phải khéo vận dụng. Từ thế kỷ XIII, rồi thế kỷ XV, thế kỷ XVII, đơn thương độc mã, ông cha ta đã đánh tan tác thế lực ngoại xâm, không để mất một thước núi, một tấc sông, để lại giang sơn gấm vóc cho chúng ta hôm nay. Lẽ nào, trong thế giới của thế kỷ XXI này, chúng ta lại không biết tận dụng sức mạnh của thời đại để giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ mà mỗi tấc đất đều thấm đẫm máu ông cha. Máu Việt nam cũng đã đổ ở Hoàng Sa, Trường Sa, mỗi người Việt nam hôm nay không quên điều đó.

May mắn thay, báo Thanh Niên, báo Người đại biểu Nhân dân, tiếng nói đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân đăng, tạp chí Tia Sáng đăng. Và rồi gần đây, đọc báo Thanh Niên, báo Tuổi Trẻ, tạp chí Xưa và Nay, báo Đại đoàn kết, tôi thấy đã có rất nhiều bài nói về Hoàng Sa, Trường Sa. Chắc là đã có sự chỉ đạo mới. Tuy vậy, là người của Mặt trận, tôi vẫn nghĩ là tờ báo của Mặt trận ta chưa có tiếng nói đúng tầm về chủ đề quan trọng và nhạy cảm này. Liệu có phải vì điều mà tôi tạm diễn đạt là “hội chứng kiểm điểm để kỷ luật” TBT báo do đăng bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi các nhà lãnh đạo về quyết định đập bỏ Hội trường Ba Đình lịch sử, nơi ghi đậm dấu ấn những sự kiện lịch sử liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo khác, nơi thể hiện ý chí và sức mạnh của quân và dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước không?

Kể cũng lạ, tiếng nói tâm huyết của một vị “khai quốc công thần” mà tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử, không chỉ của Việt Nam còn là của thế giới, mà còn bị bưng bít đến như thế thì liệu làm sao để kêu gọi, động viên nhân dân phát huy tinh thần làm chủ, tham gia đóng góp ý kiến với đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước mà nghị quyết của Đại hội Đảng cộng sản Việt lần thứ X ghi rõ “không những là quyền mà còn là trách nhiệm” của mỗi công dân yêu nước.

Tờ báo của Mặt trận, vì đạo lý dân tộc, vì sứ mệnh của người làm báo mà đến xin phép Đại tướng để đăng bức thư đó lại được chỉ đạo, phải kiểm điểm và kỷ luật. Rất may là Đảng đoàn Mặt trận đã xử lý việc này một cách đúng đắn. Tại diễn đàn này, với tư cách là một ủy viên UBTƯMTTQVN, tôi xin chân thành bày tỏ lời hoan nghênh Báo Đại Đoàn Kết, điều tôi đã có dịp viết trong bài “Một việc đáng trân trọng” đăng trên tờ báo Pháp luật TP HCM ngày 6.12.2007. Xin chân thành cám ơn và hoan nghênh đồng chí Chủ tịch Phạm Thế Duyệt và các vị lãnh đạo khác của Mặt trận đã có sự xử lý thỏa đáng việc này.

Xin chân thành cám ơn đã cho tôi phát biểu ý kiến thẳng thắn mà không bị cắt giữa chừng, xin cám ơn các cụ và các vị đã chịu khó nghe.

(Nguồn:
http://blog.360.yahoo.com/blog-wQIPEJA9fqjm1oDC6flbyNI-?cq=1&p=209
)




Số người đang online cùng bạn

Photobucket

AVATAR – http://number2.tk

Photobucket

Admin

Xin vui lòng liên hệ qua E-mail: hinhanhblog@gmail.com Thân ái! Numbertwo's blog

Blog Stats

  • 1,325,522 lượt truy cập

Đọc báo – Tin mới nhất trên các báo

RSS Diễn đàn.org

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Ảnh – Ngôi sao.net

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Thời trang – Ngôi sao.net

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Tâm tình – Ngôi sao.net

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Hình sự – Ngôi sao.net

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Làm đẹp

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Chính trị, xã hội – Người lao động

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Văn hóa – NLĐ online

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Tin tức – Phimanh.net

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Diễn viên – Phimanh.net

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Thời trang – Sức trẻ VN

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Nhịp sống @- Sức trẻ VN

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Sống đẹp – Sức trẻ VN

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Phim – Sức trẻ VN

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Yêu – Sức trẻ VN

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Home – Kênh 14

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Star – Kênh 14

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Thời trang – Kênh 14

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Blog nóng trong ngày

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

Ảnh đẹp trong ngày

Kittiwakes at Bempton Cliffs

Trois-Rivières

A game of squares

Untitled

Jersey City Raining, Exchange Place Jersey City Historic Downtown : In Explore Jun 18, 2013 #5

Et hop un petit fond de tiroir jamais dérawtisé, 3 ans déjà! allez un petit titre " promesse de récolte" ou " putain j'ai le soleil en pleine poire" ou " pffff cramé!!!! et ?" d'autres idées....A vous de jouer...

Welsh Sunset

Azúcar

Perm Ballet

Clematis

More Photos

Định giá blog


This website is worth
What is your website worth?
Tháng Sáu 2013
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 5    
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.